Pages

Thứ Hai, 14 tháng 7, 2014

LỄ ĐỨC MẸ DÂNG CON VÀO ĐỀN THỜ

CHÚA NHẬT IV TN A
LỄ ĐỨC MẸ DÂNG CON VÀO ĐỀN THỜ
(Ml 3,1-4; Dt 2,14-18; Lc 2,22-40)


Phêrô Trần Văn Hương
            Kính thưa cộng đoàn,
            Ngày 01 tết, phụng vụ thánh lễ mời gọi chúng ta kính nhớ Đức Chúa Cha và cầu bình an cho năm mới. Ngày 02, kính nhớ Đức Chúa Con, kính nhớ Tổ Tiên và Ông Bà Cha Mẹ. Hôm nay, 03 tết cũng là ngày 02 tháng 2, phụng vụ thánh lễ mời gọi chúng ta kính nhớ Đức Chúa Thánh Thần. Thánh hóa công ăn việc làm và mừng kỉ niệm biến cố Đức Mẹ Dâng Con vào Đền Thờ. Cùng với Đức Maria và thánh Giuse dâng của lễ trọn hảo là chính Chúa Giêsu, được tiến dâng trong Đền thờ, chúng ta cũng xin hiến dâng tuổi xuân, cuộc sống và cả công ăn việc làm của chúng ta làm lễ dâng lên Thiên Chúa. Xin Chúa chúc phúc và hướng dẫn đường đời chúng ta trong thánh ý Ngài.
Hôm nay Giáo hội cho làm phép những cây nến mà chúng ta mới được tham dự trước thánh lễ. Nến sáng chúng ta đã cầm trong tay và tiến vào nhà thờ, nhắc nhớ và mời gọi chúng ta lặp lại Thánh Ca mà tiên tri Siméon đã hát khi Đức Mẹ và thánh Giuse dâng Chúa Giêsu vào đền thánh. Chúa Giêsu quả là ánh sáng muôn dân, dẫn lối chúng ta vào trong cung điện Người.
Hôm nay Giáo hội cũng mời gọi chúng ta Thánh Hóa Công Ăn Việc Làm. Chúng ta hãy xin Chúa chúc lành cho công việc của chúng ta và xin Chúa hướng dẫn chúng ta biết làm công việc theo thánh ý Chúa và nhận ra giá trị đích thực của lao động là do Chúa quan phong và ban tặng.
            Kính thưa cộng đoàn,
            Lời Chúa trong thánh lễ hôm nay, tường thuật cho chúng ta biến cố dâng Chúa Giêsu trong đền thờ. Theo luật Maisen cũng là tục lệ của người Do thái, những người con trai được sinh ra, nhất là con đầu lòng, sau 40 ngày bà mẹ phải đưa đến Đền thờ, trước là dâng con cho Chúa, sau là chính mình làm lễ tẩy uế.
           Chúa Giêsu sau khi sinh được 40 ngày, Đức Maria đem con lên Đền thờ dâng cho Thiên Chúa theo luật Do thái. Đây là một biến cố rất bình thường, được diễn ra với mọi con trai đầu lòng của người Do thái. Biến cố Đức Giêsu được dâng trong đền thờ, nếu xét theo con mắt người đời thì không có gì là lạ. Nhưng xét về lịch sử cứu độ, đây là một biến cố đêm ơn Cứu Độ đến cho nhân loại và thực hiện lời tiên tri Malaki đã tiên báo: “Thình lình sẽ đến nơi đền thờ của Người, vị Chúa tể mà các ngươi đòi hỏi, và thần sứ giao ước mà các ngươi ước nguyện, này vị ấy đến” (Ml 3,1). Lời tiên báo Chúa sẽ đến đền thờ, đã có biết bao người mong ngóng, đợi trờ ơn cứu độ đến. Nhưng ngày Chúa đến, có ai chịu nổi, có ai đứng vững được. Tiên tri Malaki đã tự hỏi như thế: “Ai chịu đựng nổi ngày Người đến? Ai đứng vững được khi Người hiện ra?” (Ml 3,2).
           Hôm ấy, ông già Simêon là người  hằng mong đợi được trông thấy Đấng Cứu Thế, ông lên Đền thờ vào đúng ngày cha mẹ dâng Hài Nhi Giêsu trong Đền thờ. Vừa trông thấy Hài Nhi, được ơn Chúa Thánh Thần soi sáng chỉ dẫn, ông rất vui mừng, vội đưa tay ẵm lấy Hài Nhi và chúc tụng Thiên Chúa: “Lạy Chúa, giờ đây theo lời Ngài đã hứa, xin để tôi tớ này được an bình ra đi. Vì chính mắt con được thấy ơn cứu độ Chúa đã dành cho muôn dân: Đó là ánh sáng soi đường cho dân ngoại, là vinh quang của Israel dân Ngài” (Lc 2,29-32).
          “Cha và mẹ Hài Nhi ngạc nhiên vì những lời ông Si-mê-ôn vừa nói về Người. Ông Si-mê-ôn chúc phúc cho hai ông bà, và nói với bà Ma-ri-a, mẹ của Hài Nhi:Thiên Chúa đã đặt cháu bé này làm duyên cớ cho nhiều người Israel ngã xuống hay đứng lên. Cháu còn là dấu hiệu cho người ta chống báng; và như vậy, những ý nghĩ từ thâm tâm nhiều người sẽ lộ ra. Còn chính bà, một lưỡi gươm sẽ đâm thâu tâm hồn bà” (Lc 2,33-35).
            Lại cũng có một nữ ngôn sứ tên là An-na, con ông Pơ-nu-ên, thuộc chi tộc A-se. Bà đã nhiều tuổi lắm. Từ khi xuất giá, bà đã sống với chồng được bảy năm, rồi ở goá, đến nay đã tám mươi tư tuổi. Bà không rời bỏ Đền Thờ, những ăn chay cầu nguyện, sớm hôm thờ phượng Thiên Chúa. Cũng vào lúc ấy, bà tiến lại gần bên, cảm tạ Thiên Chúa, và nói về Hài Nhi cho hết những ai đang mong chờ ngày Thiên Chúa cứu chuộc Giê-ru-sa-lem” (Lc 2,36-38).
           Kính thưa cộng đoàn,
Bài Tin mừng cho thấy mặc dù biết Đức Giêsu con của mình, là Thiên Chúa, Đức Maria và thánh Giuse vẫn giữ tất cả những gì luật đòi buộc. Đó là một gương mẫu cho chúng ta trong đời sống phải chu toàn những tập tục, luật lệ…vì tất cả là do Chúa tác thành.
            Qua Lời Chúa hôm nay cho chúng ta bài học:
           Về sự khiêm nhường vâng giữ luật Chúa và Hội thánh. Thật ra luật Cựu ước không buộc Đức Maria và Chúa Giêsu, vì Đức Maria không thụ thai cách bình thường như người đời. Ngài mang thai là do quyền năng Chúa Thánh Thần, nên Ngài không bị ô uế theo luật Maisen và không buộc phải thanh tẩy.
           Đức Giêsu cũng không buộc phải được hiến dâng cho Thiên Chúa theo luật dạy, vì rồi đây chính Ngài sẽ bị sát tế và dâng hiến lên Chúa Cha trên thánh giá để làm của lễ chuộc tội loài người. Việc hiến dâng các trẻ em Do thái theo luật Maisen chỉ là hình bóng việc tự hiến của Ngài mà thôi. Thế nhưng chỉ vì khiêm tốn vâng phục mà Đức Maria và thánh Giuse đã chu toàn luật Cựu ước cho Chúa Giêsu để nêu gương cho chúng ta.
           Về việc sẵn lòng dâng con cho Chúa. Đức Maria sẵn lòng dâng hiến Con mình cho Thiên Chúa. Mỗi chúng ta cũng hãy dâng con mình cho Thiên Chúa, xin Chúa chúc lành, hướng dẫn, dạy dỗ chỉ bao đứa con mình trong đời sống, trong xã hội hôm nay. Đặc biệt hơn, chúng ta hãy quảng đại dâng con cho Thiên Chúa, để trở thành người thợ đem Tin mừng cứu độ của Chúa đến cho mọi người.
Là người cha, người mẹ, chúng ta hãy học và noi gương Thánh Giuse và Đức Mẹ trong lời Xin Vâng, trở nên khí cụ Chúa dùng trong kế hoạch của Chúa.
Lạy Chúa, xin thánh hóa chúng con trong chân lý, xin hướng dẫn chúng con trong cuộc sống hôm nay theo thánh ý Chúa muốn. Amen

           
       

           
                                                Sơn Tây, ngày 23 tháng 01 năm 2014

                                                     Xét duyệt của Đức Giám Mục


CHÚA KI-TÔ LÀ ÁNH SÁNG

CHÚA NHẬT III TN A
(Is 8,23b-9,3; 1Cr 1,10-13.17; Mt 4,12-23)


Phêrô Trần Văn Hương

CHÚA KI-TÔ LÀ ÁNH SÁNG
           
Kính thưa cộng đoàn,
Có lúc nào đó trong cuộc sống chúng ta đã tự hỏi lòng mình, tôi theo đạo để làm gì và tôi đang đi theo ai? Đây là những câu hỏi căn bản cho người ki-tô hữu, và nó sẽ quyết định cho cuộc sống của chúng ta. Chúng ta được hạnh phúc hay đau khổ, là nhờ vào lựa chọn căn bản này. Lời Chúa trong thánh lễ hôm nay, sẽ là ánh sáng soi đường cho chúng ta trong việc chọn lựa hướng sống.
Đức Giêsu, Ngài là Đường, là Ánh Sáng được Chúa Cha sai đến trần gian cách đây hơn hai nghìn năm. Ngài đến để thực hiện lời hứa cứu độ. Ngài đến để thực hiện và làm ứng nghiệm lời các tiên tri đã tiên báo về Ngài.
Trong bài đọc I, tiên tri Isaia đã tiên báo về “Dân đang lần bước trong tối tăm đã thấy một ánh sáng huy hoàng; đám người sống lầm than trong vùng bóng tối nay được thấy ánh sáng bừng lên chiếu rọi” (Is 9,1-2). Đây là bối cảnh của lịch sử dân Ít-ra-en trong thời đế quốc Assyria đánh chiếm Miền Bắc xứ Palestina năm 721 TCN.
Lời tiên báo của tiên tri Isaia xưa vẫn đúng cho thời đại chúng ta hôm nay, vì “đoàn dân đang ngồi trong cảnh bóng tối” (Mt 4 16), là chính hình ảnh nhân loại, chính chúng ta hôm nay. Chúng ta đang lần bước trong một thế giới đầy bóng tối của tội lỗi, của sa đọa, của ích kỷ, hần thù và hưởng thụ… Tất cả đã làm cho chúng ta bị mù quáng và chạy theo những đam mê lầm lạc, dìm mình trong bóng tối của danh lợi và thú vui trần gian. Chúng ta đã và đang đánh mất đi hướng sống,  đánh mất đi đạo đức và phẩm giá con người. Tiền là mục đích cuối cùng mà chúng ta nhắm tới và đặt lên vị trí hàng đang của cuộc sống chúng ta: “Có tiền mua tiên cũng được”. Vì miệt mài chạy theo đồng tiền nên cuốc sống chúng ta đã mất hướng đi cho tương lai, đó là nguyên nhân dẫn đến những tệ nạn xã hội của con người hôm nay: cướp giật, tham những, nghiện hút, mại dâm….
Đức Giêsu, Ngài đã đến đem ánh sáng vào trong thế gian, soi chiếu những người còn đang lầm than khốn khổ. Ngài đã đến kêu gọi mọi người bước ra khỏi bóng tối, đón nhận lấy sự sáng, sự sáng là ơn cứu độ. Ngài đến để thực hiện lời tiên báo và để kêu gọi chúng ta hãy đứng lên, bước ra khỏi bóng tối của lầm than, đau khổ.
Lời tiên báo được thực hiện khi Đức Giêsu đến: “Để ứng nghiệm lời ngôn sứ I-sai-a nói: Này đất Dơ-vu-lun, và đất Náp-ta-li, hỡi con đường ven biển, và vùng tả ngạn sông Gio-đan, hỡi Ga-li-lê, miền đất của dân ngoại! Đoàn dân đang ngồi trong cảnh tối tăm đã thấy một ánh sáng huy hoàng, những kẻ đang ngồi trong vùng bóng tối của tử thần nay được ánh sáng bừng lên chiếu rọi” (Mt 4,14-16).
Khởi đầu cho sứ vụ rao giảng, Đức Giêsu kêu gọi mọi người sám hối để trở về con đường chính nghĩa, là con đường của tình yêu, con đường sẽ đem đến hạnh phúc đích thật: “Anh em hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần” (Mt 4,17). Sám hối là để bước ra khỏi bóng đêm của tội lỗi, của những đố kỵ, ghen tương, chia rẽ, hận thù để bước vào  một thế giới mới, thế giới của ánh sáng và yêu thương, của hiệp nhất và huynh đệ. Sám hội để bước ra khỏi những vũng lầy của đam mê: tiền tài, danh vọng, nhục dục, của tha hóa đạo đức để sống đúng với nhân phẩm của con người. Sám hối để nhìn nhận những sai trái, những khuyết điểm ta đã làm hại người khác để sống đúng lời Chúa dạy.
Chúa đã đến, đã đem ánh sáng đó đến cho nhân loại, cho mọi người chúng ta, ánh sáng đó phải được tiếp tục tỏa ra cho nhân loại ở mọi thời, mọi nơi, mọi lúc. Vì thế, khởi đầu sứ vụ, Ngài đã chọn và gọi các Tông đồ, để các ngài tiếp tục “Đem ánh sáng đến cho muôn dân”. Và ánh sáng đó đã được lan tỏa cho đến thời chúng ta, và sẽ còn mãi mãi được lan tỏa đến tần cùng thế giới.
Ánh sáng đó đã được trao ban cho Hội Thánh, để Hội Thánh dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần, sẽ tiếp tục chiếu giãi ánh sáng đó vào nơi tối tăm của sự chết, của hận thù, chia rẽ…Giáo Hội đó là chính chúng ta, chúng ta được trao ban sứ vụ này trong ngày lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy, cho nên, hôm nay và chính lúc này, chúng ta phải có nhiệm vụ đem ánh sáng đó đến cho mọi người bằng lời chứng, bằng gương sáng, và bằng chính cuộc sống chứng tá của chúng ta.
Trên đường đem ánh sáng Chúa đến cho muôn dân, chắc chắn sẽ gặp rất nhiều những khó khăn như, bất đồng, chia rẽ, ghen tương, đố kỵ… Điều này không thể tránh nếu chúng ta không có Chúa trong mình. Sự bất đồng chia rẽ đã xẩy ra ngay trong thời Giáo hội sơ khai. Trong thư thứ nhất của thánh Phao-lô tông đồ gửi cho giáo đoàn Cô-rin-tô, đã nói rõ về sự bất đồng, chia rẽ này: “Tôi muốn nói là trong anh em có những luận điệu như: “Tôi thuộc về ông Phao-lô, tôi thuộc về ông A-pô-lô, tôi thuộc về ông Kê-pha, tôi thuộc về Đức Ki-tô.” Thế ra Đức Ki-tô đã bị chia năm xẻ bảy rồi ư ?” (1Cr 1,12-13). Thánh Phao-lô đã khuyên cộng đoàn tín hữu của mình phải sống hòa thuận, thương yêu và hợp một lòng một ý với nhau.
Kính thưa cộng đoàn,
Giáo hội là nơi phải tiếp tục sứ vụ này cho đến ngày tận thế. Một công việc thật cao cả và đầy gian nan thử thách. Để làm được điều này, đòi hỏi Giáo hội phải đồng tâm nhất trí thì mới có thể làm được. Bởi thế, mỗi khi đọc kinh Tin Kính, chúng ta vẫn cầu xin và tuyên xưng giáo hội là Giáo hội Duy Nhất: duy nhất trong một niềm tin, duy nhất trong một Chúa…
Lời dạy của thánh Phao-lô cho công đoàn Cô-rin-tô xưa, rất đúng và rất cần thiết cho chúng ta hôm nay. Chúng ta cũng đang chia năm xẻ bảy Đức Ki-tô trong chính đời sống chúng ta, khi chúng ta chia rẽ bất đồng với nhau trong cuốc sống….Chúng ta hãy xác tin lại ơn gọi của Chúng ta trong ngày lãnh nhận bí tích Thánh tẩy là người kế tiếp sứ vụ đem lời Chúa là Chân Lý, là Đường và là Ánh Sáng đến cho muôn dân, cho nên:
            - Chúng ta phải đồng lòng, đồng tâm nhất trí với nhau trong lời nói và việc làm. Lời nói phải đi đôi với thức hành, chúng ta đừng bắt trước các Kinh sư và người Biệt Phái, họ chỉ nói mà không làm.
            - Chúng ta phải có một đời sống hiệp nhất với nhau: Hiệp nhất trong gia đình, trong giáo họ, giáo xứ và giáo phận.
            Lạy Chúa, xin hiệp nhất chúng con nên một trong tình yêu Chúa, để qua cuộc sống chúng con, Ánh Sáng của Chúa sẽ được chiếu giãi trên mọi người trong gia đình, trong khu phố và trong cuộc sống hàng ngày chúng con gặp gỡ. Amen.
           
                                                Sơn Tây, ngày 23 tháng 01 năm 2014

                                                     Xét duyệt của Đức Giám Mục


ĐÂY LÀ CHIÊN THIÊN CHÚA

CHÚA NHẬT II TN A
(Is 49,3.5-6; 1Cr 1,1-3; Ga 1,29-34)


Phêrô Trần Văn Hương
ĐÂY LÀ CHIÊN THIÊN CHÚA
            Kính thưa cộng đoàn,
            Chúng ta đã bước vào Mùa Thường Niên. Mùa mà phụng vụ không kính nhớ mầu nhiệm đặc biệt nào như các mùa khác. Mùa thường niên được chia thành hai giai đoạn. Giai đoạn một là sau lễ Chúa Giêsu chịu phép rửa cho đến trước ngày thứ 4 lễ tro. Giai đoạn hai được bắt đầu từ ngày lễ Ngũ Tuần cho đến hết năm phụng vụ trước Chúa Nhật I Mùa Vọng. Mùa Thường Niên, mùa mà Giáo hội mời gọi chúng ta cùng song hành với Người trên con đường rao truyền Lời Chúa và đem ơn cứu độ đến cho con người. Người đó là ai? Là Chiên Thiên Chúa, Là Đấng xóa tội trân gian mà hôm nay thánh Gioan tẩy giả giới thiệu.
            Trong suốt mùa Giáng Sinh, Giáo hội mời gọi chúng ta suy niệm mầu nhiệm Con Thiên Chúa xuống thế làm người, Ngài là Thiên Chúa thật và là người thật. Đây là một mầu nhiệm quan trọng, mầu nhiệm này mời gọi người tín hữu phải có một đức tin vững chắc, một đức tin phó thác trong tay Thiên Chúa là tình yêu. Giáo hội là Mẹ biết đức tin của chúng ta rất dễ bị lung lay và thay đổi trước những biến cố của cuộc sống, và những thay đổi của xã hội. Cho nên, Mẹ Giáo hội sắp xếp các bài đọc Tin Mừng trong những Chúa nhật đầu của Mùa Thường Niên nói về những chứng tá, những phép lạ Chúa làm để khẳng định Ngài là Thiên Chúa thật, là người thật, mời gọi chúng ta một lần nữa xác tín vào Đức Giêsu là con người thật và là Thiên Chúa thật.
            Qua bài Tin mừng trong thánh lễ Chúa Giêsu chịu phép rửa, chúng ta được Thiên Chúa Cha giới thiệu và xác nhận Đức Giêsu chính là Thiên Chúa, là Ngôi Hai đã xuống thế làm người. Ngài là Người đã được tuyển chọn và là Con yêu dấu, rất đẹp lòng Chúa Cha. Sau khi Đức Giêsu từ dưới dòng sông Gio-đan đi lên, từ trời cao có tiếng Chúa Cha phán rằng: “Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người” (Mt 3,17).
            Trong bài Tin mừng hôm nay, chúng ta cũng được thánh Gioan tẩy giả giới thiệu Chúa Giêsu: “Đây là Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xóa bỏ tội trần gian” (Ga 1,29).
            Thánh Gioan tẩy giả là người được sai đến, ngài đi trước để dọn đường, để loan báo và giới thiệu về Đức Giêsu, là Đấng Thiên Sai, là Đấng Cứu Thế và là Con Thiên Chúa, được Chúa Cha sai đến để cứu chuộc mọi người. Ngài là Đấng cao trọng hơn Gioan tẩy giả. “Chính Người là Đấng tôi đã nói tới khi bảo rằng: Có người đến sau tôi, nhưng trổi vượt hơn tôi, vì có trước tôi” (Ga 1,30). “Tôi đã thấy, nên xin chứng thực rằng Người là Đấng Thiên Chúa tuyển chọn” (Ga 1,34).
            Kính thưa cộng đoàn,
            Cuộc sống hàng ngày, chúng ta có rất nhiều lần phải giới thiệu người này cho người khác, tùy mức độ và tầm quan trọng của người chúng ta cần giới thiệu. Để giới thiệu về ai đó, chúng ta phải biết rõ về người đó là ai: tên gọi, quê quán, chức vụ…Nếu không biết rõ, ta sẽ giới thiêu sai về người ấy. Và mục đích của việc giới thiệu là để cho mọi người biết nhau, hầu mong giúp ích cho nhau trong cuộc sống.

            Dựa vào bài Tin mừng và cách thức mà thánh Gioan tẩy giả giới thiệu Đức Giêsu cho dân Do thái, chúng ta rút ra bài học:
- Thánh Gioan tẩy giả là người được Chúa chọn ngay từ trong lòng mẹ để giới thiệu Chúa Giêsu cho người khác. Ngài biết rất rõ Đức Giêsu là ai, đến từ đâu và sứ vụ là gì?
Chúng ta cũng được Chúa chọn và gọi qua bí tích Thánh Tẩy để giới thiệu Chúa cho người khác. Chúng ta được trao ban sứ vụ là ngôn sứ để rao giảng Chúa cho người khác, vậy chúng ta đã biết rõ về Chúa chưa. Thực tế, chúng ta còn đang rất e dè trong việc giới thiệu Chúa cho người khác, bởi chúng ta chưa biết đủ về Chúa, bởi đức tin của chúng ta còn đang non yếu. Chúng ta ngại ngùng nói về Chúa, không dám tuyên xưng về Chúa trước đám đông người không cùng tôn giáo. Đôi khi chúng ta còn tránh né, hay từ chối nhận Chúa trước mặt mọi người. Chúng ta được làm con Chúa, mà khi được làm con thì việc giới thiệu về người Cha của mình phải là một niềm vui, niềm hãnh diện và tự hào, sao chúng ta lại nhát đảm, sợ sệt. Chúng ta không dám giới thiệu về Cha của mình, có nghĩa là chúng ta không nhận Chúa là Cha của chúng ta, chúng ta từ chối Ngài. Phải chăng là vì danh lợi, tiền tài, chức vị mà chúng ta dám từ chối và loại bỏ Thiên Chúa là Cha ra khỏi cuộc sống của chúng ta?
- Thánh Gioan tẩy giả biết rõ Đức Giêsu đến là để đem ơn cứu độ đến cho mọi người, nên ngài đã giới thiệu và can đảm làm chứng về Đức Giêsu cho dù là khó khăn, là gông cùm, là tù đầy và phải chết.
Quả thực, ý thức về công việc mình làm đem lại ích lợi cho dân chúng, Thánh Gioan tẩy giả đã giới thiệu Chúa cho dân Do thái  trong mọi hoàn cảnh, mọi lúc, mọi nơi. Ngài can đảm làm chứng về Đức Giêsu, về sự thật và chân lý cho dù phải chết. Còn chúng ta thì sao, chúng ta đã làm gì để giới thiệu Chúa cho người khác, hay chúng ta đang làm cho khuôn mặt của Đức Giêsu bị méo mó, bị biến dạng trong cuộc sống chúng ta? Một lần nữa, chúng ta xác tin điều này: “Thiên Chúa Là Tình Yêu” (1Ga 4,8), để rồi chúng ta đối chiếu vào cuộc sống hằng ngày, xem chúng ta đang giới thiệu ai cho mọi người xung quanh và cho thế giới. Nếu chúng ta đang giới thiệu về Đức Giêsu, mà không diễn tả được khuân mặt tình yêu của Ngài, là chúng ta đang giới thiệu về một ai khác, không phải là Ngài. Vì thế, lời giới thiệu về Ngài phải làm nổi bật và rõ nét khía cạnh tình yêu. Và để giới thiệu được chúng ta phải có kinh nghiệm về tình yêu: tình yêu giữa cha mẹ và con cái, tình yêu với những người sống xung quanh, tình yêu với người đau khổ, bệnh tật… Nếu chúng ta không có thì không thể giới thiệu cho người khác. Đúng thế, cổ nhân dạy rằng: “Không ai cho cái mình không có”. Chúng ta không thể giới thiệu cho người khác về Đức Giêsu nếu chúng ta không có Ngài trong chúng ta.
Đặc biệt trong năm 2014, chúng ta được mời gọi sống Tái Phúc Âm trong đời sống gia đình. Mỗi gia đình chúng ta sống và làm chứng bằng chính cuộc sống của mình qua việc đọc và suy niệm lời Chúa trong giờ kinh tối sớm hàng ngày.
Lạy Chúa, xin cho chúng con ý thức về sứ vụ chúng con lãnh nhận trong ngày lãnh bí tích Thánh Tẩy. Xin cho chúng con thấm đượm tình Chúa trong lời nói, hành động, để lời nói và hành động của chúng con luôn thể hiện khuân mặt tình yêu Chúa cho mọi người. Amen.
                                               Sơn Tây, ngày 16 tháng 01 năm 2014

                                                     Xét duyệt của Đức Giám Mục


CHÚA GIÊSU LÀ SỰ SỐNG

CHÚA NHẬT V MC A
(Ed 37,12-14; Rm 8,8-11; Ga 11,1-45)
                                                                  

Phêrô Trần Văn Hương
           
CHÚA GIÊSU LÀ SỰ SỐNG

            Kính thưa cộng đoàn,
            Khi nói về vấn đề kẻ chết sống lại, những người vô thần, những người sống theo chủ nghĩa duy vật chủ trương rằng chết là hết, không có sự sống đời sau. Phật giáo chủ trương có kiếp sống luân hồi. Vậy, chết có phải là hết không? Nếu chết là hết thì nguyên nhân nào, lý do nào khiến người vô thân, người sống theo duy vật thôi thúc họ làm điều lành, tránh điều dữ. Và sau khi chết chúng ta có phải đầu thai sang một kiếp khác không? Tại sao khi chết lại phải nhập vào con gà, con trâu, con bò….Còn Chúa Giêsu, Ngài nói gì về vấn đề sự sống sau khi chết? Để biết được Chúa Giêsu nói gì về vấn đề này, chúng ta cùng nhau tìm hiểu ba bài đọc trong thánh lễ hôm nay:
            Cả ba bài đọc trong thánh lễ hôm nay, đều khẳng định cho chúng ta một điều rất chắc chắn rằng: Con người chúng ta sẽ sống lại sau khi chết, và không chỉ sống về phần linh hồn, mà con sống cả về phần xác. Đặc biệt trong bài Tin mừng khi Chúa Giêsu tuyên bố: “Thầy là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thầy, thì dù đã chết, cũng sẽ được sống. Ai sống mà tin vào Thầy, sẽ không bao giờ phải chết”.
Trước khi Chúa cho Lazaro sống lại, Chúa đã chất vấn về lòng tin của chị Mát-ta. “Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thầy, thì dù đã chết, cũng sẽ được sống. Ai sống và tin vào Thầy, sẽ không bao giờ phải chết. Chị có tin thế không? Cô Mác-ta đáp:Thưa Thầy, có. Con vẫn tin Thầy là Đức Ki-tô, Con Thiên Chúa, Đấng phải đến thế gian” (Ga 11,25). Nhưng niềm tin của chị Mát-ta vẫn còn yếu kém, khi chị ngần ngại thực hiện lời đề nghị của Chúa là hãy lăn phiến đá lấp cửa mồ ra: “Thưa Thầy nặng mùi rồi, vì em con đã chết được bốn ngày”. Chúa Giêsu đã xác định cho chị cách chắc chắn hơn: “Nào Thầy chẳng nói với chị rằng, nếu chị tin, chị sẽ được thấy vinh quang của Thiên Chúa sao?”. Và phép lạ đã xẩy ra, Lazaro đã chết bốn ngày được Chúa cho sống lại.
Kính thưa cộng đoàn, Mục đích Chúa làm phép lạ này là để củng cố lòng tin cho các Tông đồ khi Ngài bước vào cuộc thương khó, Tử nạn và Phục sinh, và cho chúng ta ngay hôm nay. Đặc biệt chúng ta cũng sắp bước vào tuần thánh, để cùng với Chúa đi lại chặng đường này.
            Sống lại về phần xác thì chắc chắn chúng ta đã tin, vì ít nhất Chúa đã làm phép lạ cho ba trường hợp được sống lại về phần xác. Nhưng còn về phần hồn thì sao. Đó là khi chúng ta chết trong tội lỗi. Chúa cũng đã làm cho người chết về phần linh hồn khi ngài nói với người bài liệt trong Tin mừng Mác-cô: “Con đã được tha tội rồi” (Mc 2,9). Như vậy, mỗi khi chúng ta phạm tội, là chúng chết trong tội.
Hàng ngày, mỗi khi đọc Kinh Tin Kính, chúng ta vẫn tuyên xưng: “Tôi tin xác loài người ngày sau sống lại”, nhưng hình như chúng ta không sống đúng niềm tin ấy, khi chúng ta dành hầu hết thời gian lo cho cuốc sống thân xác: lo kiếm tiền, lo ăn uống, lo vui chơi giải trí, lo cho các nhu cầu cuộc sống. Tất cả những nhu cầu hàng ngày chúng ta lo cho cuộc sống thân xác, nó chỉ là những thứ tạm bợ, chóng qua, mau hư nát. Sách Giảng viên cho chúng ta biết: “Tất cả chỉ là phù vân, chỉ là công dã tràng xe cát” (Gv 1,14).
Cuộc sống thần linh, cuộc sống vĩnh cửu mai sau, mới là cuộc sống thật. Thì chúng ta làm chiếu lệ cho qua, làm để chu toàn bổn phận, nếu không dám nói là chúng ta coi thường những việc làm lo cho cuộc sống vĩnh cửu. Ví như khi đi tham dự thánh lễ, tham dự các bí tích…
            Kính thưa cộng đoàn,
             Chỉ còn một tuần nữa, toàn thể Giáo hội bước vào tuần chay thánh. Giáo hội cho ta nghe lại bài Tin mừng này cũng với mục đích, giúp chúng ta xét duyệt lại đức tin của mình trong đời sống hôm nay, chúng ta đang ở mức độ nào? Nhờ việc duyệt xét lại, chúng ta sẽ có một tuần thánh thật sốt sáng để đón mừng biến cố Chúa Tử nạn và Phục sinh.
            Vậy, chúng ta phải duyệt xét lại điều gì, xin đưa ra ba gợi ý dựa vào bài Tin mừng hôm nay:
            - Thứ nhất,  Việc Chúa làm cho Lazaro sống lại là để báo trước cái chết và sự sống lại của chính Ngài. Đây là nòng cốt cho niềm tin của chúng ta. Thánh Phao-lô nói: Nếu Đức Ki-tô không sống lại, thì niềm tin của chúng ta là mù quáng, và lời rao giảng sẽ trở nên vô nghĩa. Vì là vấn đề quan trọng, mang tính quyết định, nên trong cuộc đời rao giảng, đã ba lần Chúa làm phép lạ cho người chết sống lại. Từ em bé mới 12 tuổi, đến anh thanh niên con bà góa, và hôm nay là người bạn thân thiết của Chúa đã chết được bốn ngày, đã có mùi hôi thối.
            Từ hơn hai nghìn năm qua, Giáo hội đã và đang tuyên xưng cùng sống niềm tin này. Chúng ta đã tin thật chưa, hay vẫn chỉ là nghe cho biết rồi để đấy, chúng ta đã xác tín thật, và tuyên xưng chắc chắn như chị Mác-ta: “Thưa Thày, con tin” chưa?
- Thứ hai, Chúa làm phép lạ cho Lazaro sống lại là để minh chứng Chúa là chủ sự sống, là  Đấng hằng sống và là nguồn sống. Ngài đã tạo dựng sự sống, Ngài có quyền trên sự sống, và có quyền phục hồi sự sống.
Năm gia đình, Giáo hội mời gọi chúng ta hãy trở thành một gia đình phục vụ sự sống. Vậy chúng ta đã làm cho gia đình mình trở thành nơi cưu mang sự sống, nơi nuôi dưỡng sự sống, nơi che chở và bảo vệ sự sống, chúng ta đã làm được chưa?
- Thứ ba, Chúa làm phép lạ cho Lazaro sống lại là để củng cố niềm tin và hi vọng của chúng ta vào sự sống lại sau khi chết.
Mỗi chúng ta được sinh ra ở trần gian ai cũng phải chết, đó là điều tất nhiên. Nhưng chết không phải là hết, mà là bắt đầu cuộc sống mới, một cuộc sống thật, một cuộc sống mãi mãi trong Thiên Chúa. Không phải chỉ có linh hồn mà cả thân xác chúng ta sẽ được sống lại. Chúng ta đã sống, đã làm gì trong cuộc sống hiện tại này, để sau khi chết, chúng ta cùng được sống lại trong vinh quang với Chúa?
Ước chi những lời mời gọi của Chúa trong bài Tin mừng hôm nay, sẽ là động lực thúc đẩy chúng ta trở về với Chúa qua bí tích Hòa Giải.
Lạy Chúa, xin cho chúng con biết xác tín và tuyên xưng niềm tin của chúng con như chị Mác ta xưa: “Thưa Thầy, có. Con vẫn tin Thầy là Đức Ki-tô, Con Thiên Chúa, Đấng phải đến thế gian” (Ga 11, 27), để chúng con cũng được sống mai với Chúa trong vinh quang. Amen.

                                                Sơn Tây, ngày 03 tháng 04 năm 2014

                                                       Xét duyệt của Đức Giám Mục 


CHÚA GIÊSU LÀ ÁNH SÁNG

CHÚA NHẬT IV MC A
(1Sm 16,1b.6-7.10-13a; Ep 5,8-14; Ga 9,1-41)
                                                                  

Phêrô Trần Văn Hương
           
CHÚA GIÊSU LÀ ÁNH SÁNG

            Kính thưa cộng đoàn,
            Bài Tin mừng hôm nay thuật lại cho chúng ta câu chuyện người mù bẩm sinh được Chúa chữa lành. Trong các sách Tin mừng, có nhiều lần kể cho chúng ta việc Chúa chữa người mù, nhưng đây là lần duy nhất cho ta biết Chúa chữa người mù từ khi mới sinh. Mục đích để làm gì? Thưa, Chúa Giêsu nói rất rõ trong bài Tin mừng: “Là để thiên hạ nhìn thấy công trình của Thiên Chúa được tỏ hiện” (Ga 9,3).
            Nhận thấy công trình của Thiên Chúa là chúng ta nhận biết  Đức Ki-tô và tin vào Người. Tin Mừng theo Thánh Gioan cho chúng ta biết, Đức Ki-tô là Ngôi Lời. “Ngôi Lời là ánh sáng thật, ánh sáng đã đến thế gian và chiếu soi mọi người. Người ở giữa thế gian, và thế gian đã nhờ Người mà có, nhưng lại không nhận biết Người” (Ga 1,9-10).
             Đã hơn hai ngàn năm, Đức Giêsu đã đến để mở mắt cho con người nhận ra Ngài, tin vào Ngài và được cứu độ, qua lời dạy và những phép lạ. Nhưng cho tới ngày hôm nay, Đức Giêsu vẫn bị coi như một người xa lạ, một người làm ảnh hưởng tới đời sống của con người, một Người đem lại sự buồn phiền, xui xẻo cho con người. Tại sao vậy? thưa vì con người không dám nhìn nhận sự thật, sống theo sự thật, cho nên con người vẫn sống trong bóng tối.
            Đức Giêsu có đúng là người luôn đêm lại bất hạnh, sự buồn phiền và những xui xẻo cho con ngươi không? Thưa không. Bằng chứng cụ thế nhất là trong bài Tin mừng hôm nay, người tin vào Chúa, nhận ra Chúa, làm theo lời Chúa dạy là người hạnh phúc nhất, bình an nhất. Đó là người mù từ thuở mới sinh.
            Còn chúng ta chưa có hạnh phúc, chưa có sự bình an may lành, là vì chúng ta chưa tin vào Chúa thật, chúng ta chưa dám đặt trọn vẹn niềm tin của mình cho Chúa, chưa dám phó thác cuộc đời mình trong bàn tay yêu thương và quan phòng của Chúa; bởi tính ích kỉ, kiêu căng, tự phụ, vô cảm…che khuất mắt chúng ta, làm cho đôi mắt của chúng ta tưởng chừng như đang rất sáng để nhìn mọi sự vật thật đúng, nhưng thật sự chúng ta đang bị che khuất, chúng ta trở nên người ngồi trong bóng tối.
            Bài đọc I thuật lại cho chúng ta biết phải làm gì khi làm việc, đừng xét đoán theo vẻ bề ngoài, Đức Chúa nói với Sa-mu-en khi chọn người xức dầu phong vương rằng: “Đừng xét theo hình dáng và vóc người cao lớn của nó, vì Ta đã gạt bỏ nó. Thiên Chúa không nhìn theo kiểu người phàm: người phàm chỉ thấy điều mắt thấy, còn ĐỨC CHÚA thì thấy tận đáy lòng” (1Sm 16,7). Như vậy, chúng ta cần phải có ánh sáng Chúa soi dẫn, chỉ lối cho ta trong mọi công việc, hành động và suy nghĩ của mình. Nếu không có Chúa, chúng ta sẽ trở nên mù tối và sai lỗi.
            Cũng trong bài Tin Mừng, những người Pha-ri-siêu bị Chúa khiển trách:  “Đức Giê-su nói: "Tôi đến thế gian này chính là để xét xử: cho người không xem thấy được thấy, và kẻ xem thấy lại nên đui mù!". Những người Pha-ri-sêu đang ở đó với Đức Giê-su nghe vậy, liền lên tiếng: "Thế ra cả chúng tôi cũng đui mù hay sao?" Đức Giê-su bảo họ: "Nếu các ông đui mù, thì các ông đã chẳng có tội. Nhưng giờ đây các ông nói rằng: 'Chúng tôi thấy', nên tội các ông vẫn còn!” (Ga 9,39-40).
            Kính thưa cộng đoàn,
            Đui mù là căn bệnh khổ nhất con người chúng ta gặp phải. Trên thế giới ngày nay, còn khoảng 13 triệu người mù. Người mù là bệnh nhân rất đáng thương vì họ luôn phải sống trong đêm tối. Nếu không có đức tin, người ta dễ thất vọng trong cảnh sống này, và dẫn tới cái chết. Văn hào Montferland đã tự tử vì không chịu được cảnh sống như vậy.
Mỗi người trong chúng ta đều có hai con mắt để nhìn, để thấy những sự vật chung quanh. Ai không có khả năng trông thấy thì gọi là mù. Tuy nhiên, chúng ta có hai cặp mắt: cặp mắt thể xác và cặp mắt tinh thần hay chính là cặp mắt đức tin. Cặp mắt thân xác chỉ cung cấp cho chúng ta  được cái nhìn của loài người, chỉ thấy những gì tỏ lộ ra bên ngòai như trường hợp ông Samuel xức dầu cho Eliab một người cao lớn khỏe mạnh theo cặp mắt xác thịt của ông. Còn cặp mắt đức tin cung cấp cho chúng ta cái nhìn của Thiên Chúa như trường hợp ông Samuel biết xức dầu cho Đavít; và anh mù nhờ cặp mắt đức tin mà nhận ra và tuyên xưng Đức Giêsu là Chúa. Cặp mắt đức tin này quan trọng hơn vì nó giúp chúng ta xem điều gì đẹp lòng Chúa (Ep 5,9).
            Quả thực, chúng ta không mù về thể lý, nhưng chúng ta đang bị mù về tình thần, về đức tin.
            Người mù bẩm sinh trong Tin Mừng hôm nay tuy bị mù đôi mắt thể xác nhưng anh ta lại sáng suốt hơn những người Pharisêu tự cho mình tinh thông, tự hào là người khôn ngoan, nhưng họ đang bị mù quáng mà chẳng hay. Họ bị thành kiến che mờ tâm trí nên họ không nhận ra Đức Giêsu là Đấng cứu độ nên họ đã không được đón nhận ơn cứu độ do Người tặng ban.
Còn chúng ta hôm nay thì sao? Chúng ta đang phải đối diện với nhiều hình thức mù quáng, điển hình nhất là ba hình thức sau: Mù quáng vì tham lam: chúng ta sẵn sàng bất chấp tất cả, dùng mọi thủ đoạn để đạt được lòng tham của mình. Mù quáng vì ghen tị: khi thấy người khác hơn mình, thì tìm mọi cách để nói xấu, để hạ nhục và làm hại, ngay cả tới tính mạng. Mù quáng vì dục tình: Như vua Đa-vít xưa, vì mê đắm sắc đẹp đã tìm cách giết chết Uria để cưới vợ của ông.
Nói tóm lại, sống trong xã hội hôm nay, lòng người rất dễ trở nên mù quáng do tình dục, do lòng tham lam, kiêu căng, ghen tị…khiến người ta lún sâu vào vũng bùn tội ác lúc nào không hay.
Chứng mù quáng này tai hại gấp ngàn lần mù loà đôi mắt thể xác. Không chỉ hại đến bản thân, đến tha nhân, mà làm cho ta xa rời Chúa đời đời. Thật tai hại nếu chúng ta không tự nhận biết mình đang trong tình trạng mù quáng.
Kính thưa cộng đoàn,
Người mù cần và khát khao ánh sáng đến thế nào, thì người bị mù tối về đức tin cần ánh sáng Chúa soi dẫn hơn gấp trăm ngàn lần. Giúp chúng ta nhận ra Chúa và đón ơn cứu độ của Ngài.
Đặc biệt trong mùa chay nay, chúng ta hãy đứng lên, đến với Chúa qua bí tích Hòa giải, chắc chắn chúng ta sẽ nhận được ánh sáng Chúa hướng dẫn.
Chúng ta hãy đến với Lời Chúa trong giờ kinh gia đình. Xin Chúa là ánh sáng soi dẫn cuộc đời chúng ta, giúp chúng ta vững bước trên nẻo đường của cuộc sống trần gian, hầu ngày sau được hạnh phúc thật bên Chúa.
Lạy Chúa Giêsu là ánh sáng cho trần gian, xin chiếu dọi ánh sáng Chúa vào tâm trí chúng con, cứu chúng con khỏi bị mù quáng do dục vọng, ích kỷ, ghen tị gây nên, để chúng con khỏi hư mất đời đời nhưng được cứu độ và được sống muôn đời. Amen.


                                                Sơn Tây, ngày 28 tháng 03 năm 2014

                                                       Xét duyệt của Đức Giám Mục 


NƯỚC HẰNG SỐNG

CHÚA NHẬT III MC A
(Xh 17,3-7; Rm 5,1-2.5-8; Ga 4,5-42)
                                                                  

Phêrô Trần Văn Hương
           
NƯỚC HẰNG SỐNG
            Kính thưa cộng đoàn,
            Cuộc sống là hành trình đi tìm thỏa mãn những cơn khát, khát vật chất và khát tinh thần. Dân Do Thái xưa trong sa mạc, được Chúa cho no thỏa nước uống và bánh ăn khi họ tới với Thiên Chúa Giavê. Còn chúng ta hôm nay thì sao, biết bao những khát vọng muốn thỏa mãn mà không thể được, đặc biệt khát vọng về tinh thần. Lời Chúa hôm nay sẽ dẫn đường chỉ lối cho ta thỏa mãn những cơn khát đó.
            Ngày hôm nay, nhu cầu cuộc sống vật chất quá cao, dẫn đến khát vọng rất lớn. Ngoài cơm áo gạo tiền, nhu cầu phục vụ cuộc sống làm thay đổi và lôi kéo con người vào vòng xoáy tìm kiếm để thỏa mãn. Càng tìm kiếm, càng muốn thỏa mãn thì con người càng thấy thiếu, càng thấy đau khổ nhiều trên con đường thỏa mãn khát vọng.
            Ví như khi khát nước, ta uông thật đã để thỏa mãn rồi lại khát. Cơm ăn thật no rồi lại đói. Mua được chiếc xe đạp rồi mơ có xe máy, và cứ như thế, ước mơ, nhu cầu đưa con người vào vòng xoáy của tiền bạc, làm vợ chồng bỏ nhau vì tiền, con cái bị bỏ rơi cùng vì tiền. Cha mẹ, con cái lìa mặt nhau cũng vì tiền. Khát vọng nói tiếp khát vọng, nhu cầu nối tiếp nhu cầu. Một cuộc sống đau khổ trong vòng xoáy vật chất.
            Khát vọng vật chất là như thế, nhưng khát vọng tình thần còn làm con người đau khổ hơn nếu không được thỏa mãn. Thánh Augustino đã cảm nhận được điều này khi ngài nói: “Lạy Chúa, Chúa dựng nên con và lòng con luôn khắc khoải cho tới khi tâm hồn con được nghỉ an trong Chúa”. Vâng, thánh nhân đã bộc lộ tâm tư khắc khoái, “đói khát” Chúa, chỉ khi nào được an nghỉ, lòng mới hết. Đây cũng chính là tâm trạng của con người ngày hôm nay.
            Vậy phải làm thế nào để hết những cơn khát, nhưng đau khổ đang dìm con người xuống?
            Tin mừng ngày hôm nay cho chúng ta biết, Đức Giêsu đã đến, nơi Ngài sẽ ban phát dòng suối vô tận, và nhưng ai đến với Ngài, uống Nước Ngài ban sẽ không bao giờ phải khát nữa.
         Cuộc đối thoại giữa người phụ nữ với Đức Giêsu bên bờ giếng Gia-cóp, cho chúng ta biết, chỉ có Ngài mới làm no thỏa đời ta. “Ai uống nước này, sẽ lại khát. Còn ai uống nước tôi cho, sẽ không bao giờ khát nữa. Và nước tôi cho sẽ trở thành nơi người ấy một mạch nước vọt lên, đem lại sự sống đời đời” (Ga 4,13). Nơi khác Ngài con khẳng định mạnh hơn và đòi hỏi chúng ta chỉ cần có lòng tin, mọi cơn khát, cơn đói sẽ được thỏa mãn: “Chính tôi là bánh trường sinh. Ai đến với tôi, không hề phải đói; ai tin vào tôi, chẳng khát bao giờ” (Ga 6,34). Vâng, ngày nay chúng ta vẫn còn đang rất khát, rất đói chỉ vì chúng ta chưa tin vào Chúa, chúng ta không dám đánh đổi cuộc đời chúng ta cho Chúa. Chúng ta đến với Chúa trong thánh lễ, giờ kinh…chỉ như là một việc phải làm để chu toàn bổn phận không thì mắc tội. Chúng ta đến với Chúa chỉ mong sao cho thật nhanh để ra về với công việc. Chúng ta đến với Chúa mà lòng không một chút ở với Chúa. Gần như đến với Chúa là một sự ép buộc chúng ta phải làm, chúng ta không vui, không cảm thấy bình an, không cảm thấy hạnh phúc. Nhiều khi, vì thúc dục nhau đến với Chúa, vợ chồng, cha mẹ, con cái, anh chị em còn lời to, tiếng nhỏ với nhau….tất cả những đau khổ xảy ra trong cuộc sống ngày hôm nay hệ tại ở một lý do duy nhất là chúng ta chưa có Chúa trong chúng ta.
            Làm thế nào để chúng ta gặp được Chúa thật sự đây, khi cuộc sống quá nhiều bon chen, bề bộn, ồn ào…?
            Kính thưa cộng đoàn,
Hai người gặp được nhau, nói chuyện với nhau, chia sẻ với nhau rất thân mận, chỉ khi họ hiểu về nhau, đồng cảm với nhau, biết được bản chất của nhau... Thì đối với Thiên Chúa cũng vậy? Để gặp được Chúa, chúng ta phải hiểu được bản chất của Thiên Chúa. Bản chất của Thiên Chúa là Tình Yêu. Nếu chúng ta muốn gặp được Ngài, chúng ta phải đi vào quỹ đạo của tình yêu. Chỉ nơi tình yêu, chúng ta mới có thể gặp được Ngài.
Làm thế nào chúng ta có thể sống trong tình yêu với Ngài đây? Thưa, Tin Mừng hôm nay dạy chúng ta, nếu chúng ta muốn gặp được Thiên Chúa, muốn sống trong tình yêu của Ngài, chúng ta hãy đến và thờ lạy Ngài trong Thần Khí và Sự Thật: “Nhưng giờ đã đến, và chính là lúc này đây, giờ những người thờ phượng đích thực sẽ thờ phượng Chúa Cha trong thần khí và sự thật” (Ga 4,23).
Thờ Chúa trong thần khí, là trong chính cung long của chúng ta, trong chính tâm hồn chúng ta. Vì tâm hồn và cung lòng chúng ta là đền thờ Chúa ngự. Con người chúng ta được Chúa dựng nên giống hình ảnh Chúa. Chúng ta hãy sống xứng với điều cao cả Chúa đã ban cho chúng ta.
Thờ Chúa trong sự thật, vì chỉ ở trong sự thật, chúng ta mới gặp được Thiên Chúa, mọi gian dối, lừa lọc…thiếu sự thật, là do ma qủy, và chắc chắn không có ở trong Thiên Chúa.

           
                         
                      
           

                                                Sơn Tây, ngày 22 tháng 03 năm 2014

                                                       Xét duyệt của Đức Giám Mục 


Qua đau khổ đến vinh quang

CHÚA NHẬT II MÙA CHAY
Qua đau khổ đến vinh quang

Nhập đề :
Mùa Chay là mùa tập luyện chiến đấu thiêng liêng.
Tuần trước, Chúa Giêsu dạy ta bài học chiến đấu và chiến thắng các cám dỗ.
Tiếp tục hành trình mùa Chay, hôm nay Chúa dạy chúng ta một bài học khác qua cuộc biến hình của Ngài. Bài học gì đây, chúng ta hãy cùng tìm hiểu để sống Lời Chúa dạy.

Diễn đề :
Xem : Trên núi cao, Chúa Giêsu biến đổi khác thường, dung mạo chói lói, y phục sáng ngời, Mô-sê và Ê-li-a đến đàm đạo, có tiếng Chúa Cha phán : "Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người. Hãy nghe lời Người".
Khi xuống núi, Chúa dặn 3 môn đệ thân tín không được nói với ai về sự kiện này, cho đến khi Con Người từ cõi chết trỗi dậy.
Sự kiện biến hình có hai mục đích : để củng cố đức tin cho các môn đệ trước cuộc tử nạn của thầy chí thánh, đồng thời dạy chúng ta biết muốn đạt vinh quang Nước Trời, phải trải qua đau khổ, đó là qui luật sống.
Sinh viên muốn tốt nghiệp , phải dùi mài kinh sử ; lực sĩ muốn đoạt huy chương, phải tập luyện vất vả ; binh sĩ muốn chiến thắng, phải rèn luyện khắc khổ ...
Cũng thế, trong bài đọc I, để trở nên cha của một dân tộc đông như sao trời cát biển, Abraham phải từ bỏ quê hương, ra đi theo tiếng Chúa, đồng thời trải qua nhiều nỗi gian truân mới đạt được.
Trong bài đọc II, thánh Phaolô từ trong tù, đã viết thư khuyên môn đệ Timôtê đồng lao cộng khổ với ngài trong việc loan báo Tin Mừng, để đem ơn cứu độ đến với mọi người.
Các môn đệ, trong bài đọc Tin Mừng, thích được ở lại trên núi, chiêm ngưỡng vinh quang chói ngời của Chúa. Nhưng chưa phải lúc ! Chúa cho biết Ngài sẽ phải chịu nhiều đau khổ, bị chối bỏ và bị giết, nhưng ngày thứ ba Ngài sẽ trỗi dậy, bước vào vinh quang, mà sự biến hình hôm nay trên núi là sự tiên báo. Để cứu độ nhân loại, Chúa Giêsu phải trả giá bằng đau khổ và cái chết của Ngài.
Đó là bài học để mỗi người chúng ta biết rằng chính mình cũng phải trải qua nhiều nỗi gian truân, nghịch cảnh, đau khổ, mới được vào hưởng vinh quang Nước Trời.
Xét : Mùa Chay mời gọi chúng ta biết kết hiệp các đau khổ của mình với Chúa Giêsu, để sau cuộc đời này, chúng ta sẽ đồng hưởng vinh quang thiên quốc, như lời thư Rôma 6,8 : “Nếu ta cùng chết với Ngài, ta sẽ cùng Ngài phục sinh ; Nếu ta chịu khổ với Ngài, ta sẽ cùng Ngài thống trị”.
Mời anh chị em xem xét thái độ của mình trước những đau khổ, nghịch cảnh, thất bại trong cuộc đời, phải chăng ta chối từ chúng ? Chúa Giêsu nêu gương cho ta về sự quả cảm lên Giêrusalem để đón nhận khổ hình (x. Lc 9,51). Ngài không hèn nhát chạy trốn, nhưng dũng cảm đương đầu. Trong chặng thứ 4 mùa Thương kinh Mân côi, chúng ta chẳng “xin cho được vác thánh giá theo chân Chúa” đó sao ? Các tông đồ được chiêm ngưỡng Chúa biến hình, nhưng đức tin của các ông vẫn không vững mạnh hơn, nên trong cuộc tử nạn của Chúa, các ông đã đầu hàng, chạy trốn, phản bội Chúa. Thật đáng tiếc !
Các thánh tử đạo cha ông chúng ta đã noi gương Chúa, can đảm vác thánh giá đời mình theo Chúa, và các ngài đã đoạt được nhành thiên tuế tử đạo. Giờ đây, các ngài đang được hưởng vinh quang thiên quốc.
Chúng ta cũng hãy can đảm đối diện với những thử thách Chúa gửi đến. Chúa không để chúng ta vác thánh giá một mình đâu, và thánh giá không đưa chúng ta vào cõi hư vô đâu, nhưng sẽ mang lại phần thưởng bội hậu cho chúng ta.
Làm : Trong mùa Chay thánh này, mỗi khi gặp đau khổ, thất bại hay nghịch cảnh, ước gì mỗi người chúng ta, trong niềm tín thác, sẽ vác lấy nó đi theo Chúa.  
Trong bối cảnh Năm phúc âm hóa gia đình, chúng ta có thể làm điều ấy, nếu biết cầu xin Chúa trợ giúp. Nhờ cầu nguyện, chúng ta được tiếp thêm năng lượng thiêng liêng hầu đủ sức vác thánh giá đi theo Chúa.
Chúng ta cũng có thể chấp nhận thử thách nếu có lòng yêu mến Chúa, như lời thánh Augustinô : “Ở đâu có tình yêu, ở đó không có vất vả khó nhọc”.
Chấp nhận thánh giá sẽ đạt được sự sống vĩnh cửu, đó không phải là chúng ta tôn trọng sự sống, mà lại là sự sống thiêng liêng, đời đời đó sao ?
Sau cùng, khi nhẫn nại vác thánh giá đời mình, chúng ta góp phần vào việc loan báo Tin Mừng, như  lời thánh Phaolô nói với Timôtê : “Anh hãy đồng lao cộng khổ với tôi để loan báo Tin Mừng”.   

Kết :
Lạy Chúa Giêsu chí thánh, Chúa muốn chúng con biết chấp nhận mọi thử thách trong cuộc đời. Chúa còn nêu gương cho chúng con qua cuộc tử nạn-phục sinh của Chúa. Qua đó, Chúa dạy chúng con rằng đau khổ không phải là dấu chấm hết cho cuộc đời, rằng đau khổ không phải là bất hạnh, nhưng là cánh cửa mở vào hạnh phúc vĩnh cửu cho chúng con. Phần thưởng nước trời chỉ lớn lao nếu ngày nay chúng con biết đón nhận thánh giá. 
“Lạy Chúa, xin cho con bước đi với Ngài, xin cho con cùng vác với Ngài thập giá trên đường đời con đi. Lạy Chúa, xin cho con (chịu) đóng đinh với Ngài, xin cho con cùng chết với Ngài, để được sống với Ngài vinh quang”. Amen.



 

Sample text

Sample Text

Sample Text

 
Blogger Templates