Pages

Hiển thị các bài đăng có nhãn Suy niệm theo ngày. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Suy niệm theo ngày. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 15 tháng 7, 2014

ĐỨC TIN, ƠN BAN NHƯNG KHÔNG

LỄ THÁNH PHÊRÔ VÀ PHAOLÔ
(Cv 2,1-11; 2Tm 4,6-8.17-18; Mt 16,13-19)
                                                                                                                                      

Phêrô Trần Văn Hương
           
ĐỨC TIN, ƠN BAN NHƯNG KHÔNG


            Kính thưa cộng đoàn,
            Hôm nay Giáo hội long trọng mừng lễ kính hai thánh Tông Đồ Phêrô và Phaolô. Hai con người, hai cuộc đời, đã trở thành hai cột trụ Đức Tin vững bền của Giáo Hội. Một Phêrô chối Thày đến ba lần, một Phaolô truy lùng, bắt bớ Giáo hội. Tất cả đã được Chúa biến đổi nhờ đức tin. Nhờ đức tin, Phêrô được Chúa biến đổi trở thành tông đồ trưởng, đứng đầu Giáo hội hoàn vũ. Nhờ đức tin, Phaolô đã trở nên vị tông đồ dân ngoại vĩ đại nhất. Mừng lễ hôm nay, xin được cùng với cộng đoàn nhìn lại đời sống đức tin của hai vị thánh tông đồ, từ đó, chúng ta duyệt xét lại đức tin của chúng ta trong đời sống hôm nay.
Đức tin là một ơn ban nhưng không của Thiên Chúa, Ngài ban cho ai thì người đó được. Đúng như thế, lời tuyên xưng niềm tin vào Chúa Giêsu của thánh Phêrô trong bài Tin mừng hôm nay cho chúng ta xác tín chắc chắn Đức Tin là ơn ban từ Thiên Chúa: “Này anh Si-môn con ông Giô-na, anh thật là người có phúc, vì không phải phàm nhân mặc khải cho anh điều ấy, nhưng là Cha của Thầy, Đấng ngự trên trời”.
Đức tin không phát xuất từ con người phàm hèn, mà được ban từ Thiên Chúa.
Có biết bao nhiều người đã bỏ công, bỏ thời gian để tìm hiểu về Chúa, đọc và học hỏi Thánh Kinh của Chúa. Nhưng cuối cùng cũng chỉ là dã tràng xe cát bể đông vì không có ơn Chúa ban.
Có biết bao nhiêu người, một chữ bẻ đôi cũng không biết, vậy mà họ lại có một đức tin thật sâu sắc vào Chúa. Một đức tin dám quên mình, hy sinh cả đến tính mạng vì Chúa.
Như thế, cùng với hai vị thánh tồng đồ hôm nay, chúng ta phải cảm tạ Chúa đã ban cho chúng ta ơn đức tin, một hồng ân cảo cả Chúa đã ban cho chúng ta. Chúng ta có được diễm phúc tin vào Chúa, chỉ vì Chúa yêu chúng ta mà thôi.
Hai thánh tông đồ Phêrô và Phaolô cũng là những con người yếu đuối như chúng ta. Các ngài cũng gặp biết bao thử thách trong đời sống đức tin. Một Phêrô luôn luôn ở bên cạnh Thày mình, vậy mà chỉ một phút yếu đuối, ngài đã chối bỏ thầy mình ngay trước mặt một người phụ nữ. Và không chỉ một lần, ngài đã chối Thày tới ba lần. Nhưng nhờ ánh mắt nhân từ của Thầy Giêsu, Thánh Phêrô đã xác tín niềm tin của mình, vượt qua mọi thử thách, bắt bớ để bảo vệ niềm tin đó. Và nhờ được sứ thần của Thiên Chúa đến giải cứu ông đang bị gông cùm trong nhà lao, nên ông càng xác tín mạnh hơn và quyết tâm mạnh hơn vào việc bảo vệ đức tin này. Cho dù gặp gian lao thử thách, dù phải chết, ngài cũng quyết bảo vệ đến cùng. 
Thánh Phaolô cũng thế, một con người được Chúa ban cho hồng ân đức tin sau khi Ngài sống lại. Trong khi thánh Phaolô đang hăm hở, hăng say đi bắt các môn đệ và những kitô hữu của Chúa để bách hại, ông đã bị Chúa đánh ngã ngựa, ánh sáng của Chúa làm ông mù lòa trên đường đi Đamas. Thánh nhân khi ngã ngựa, nhận thấy thân phận yếu đuối đã thưa với Chúa Giêsu: “Lạy Ngài, Ngài là ai?” ( Cv 9, 5 ). Kể từ đây, Chúa đã chọn thánh Phaolô làm tông đồ cho các dân ngoại như lời Chúa phán với Khanania: “ …Người ấy là lợi khí Ta chọn để mang danh Ta đến trước mặt các dân ngọai, các vua chúa và con cái Irsaren” ( Cv 9, 15 ). Vì Chúa, vì niềm tin vào Chúa, thánh Phaolô đã bảo vệ đến cùng.
Kính thưa cộng đoàn,
Đức tin là một ơn ban nhưng không, nhưng đức tin đòi chúng ta phải gắng sức cộng tác với ơn Chúa để bảo vệ và giữ gìn. Chúng ta không được phép ỉ nại, cậy dựa vào những khả năng của bản thân. Thánh Phêrô để lại cho chúng ta bài học về sự ỉ nại vào khả năng khi ngài tuyên bố với Chúa. “Dù mọi người bỏ Thầy, con đây cũng không bỏ Thầy”. Ba lần chối Chúa đã cho thánh Phêrô nhận ra sự yếu đuối và khả năng của bản thân khi đứng trước các cám dỗ và thử thách niềm tin vào Thày. Vì thế, mỗi chúng ta hãy cậy dựa vào ơn Chúa, xin Chúa giúp sức để chúng ta can đảm giữ vững niềm tin như thánh Phaolô: “Tôi đã đấu trong cuộc thi đấu cao đẹp, đã chạy hết chặng đường, đã giữ vững niềm tin. Giờ đây tôi chỉ còn đợi vòng hoa dành cho người công chính”. Sự kiên trì giữ vững niềm tin đã đem lại vòng hoa công chính cho hai thánh tông đồ. Và mỗi chúng ta cũng sẽ được thưởng vòng hoa công chính như thế, nếu chúng ta cũng can đảm chiến đấu trong cuốc thi đấu cao đẹp này.
Thưa cộng đoàn,
Đang khi ông Phê-rô bị giam giữ như thế, thì Hội Thánh không ngừng dâng lên Thiên Chúa lời cầu nguyện khẩn thiết cho ông”. Vâng, niềm tin được thể hiện trên hai bình diện cá nhân và cộng đoàn. Nên giữ vững niềm tin không chỉ dừng lại ở trên phương diện cá nhân mà cần có sự trợ giúp, nâng đỡ của cộng đoàn. Bởi thế, trong nghi thức ra nhập đạo, người tân tòng nài xin Giáo hội ban cho mình ơn đức tin. Anh chi, hay ông bà xin gì cùng Hội Thánh, thưa, con xin ơn Đức Tin.
Kính thưa cộng đoàn,
Mừng lễ hai thánh tông đồ hôm nay, Giáo hội mời gọi chúng ta xác tín hơn về đức tin mà chúng ta đã được lãnh nhận, là đức tin được phát xuất từ Thiên Chúa; ơn cao, ơn nhưng không. Đồng thời, Giáo hội mời gọi mỗi chúng ta phải giữ vững niềm tin đó bằng nỗ lực cá nhân và trong sự gắn kết với đức tin của cộng đoàn.
Về cá nhân: Chúng ta phải năng học hỏi giáo lý và lời Chúa, gắn kết với Chúa bằng lời kinh và Thánh lễ, đặc biệt là bí tích Thánh Thể.
Với cộng đoàn: Chúng ta phải sống trong sự hiệp nhất, đoàn kết, yêu thương, để cộng đoàn trợ giúp chúng ta bằng lời cầu nguyện, bằng sự nâng đỡ khi gặp khó khăn thử thách. Sự nâng đỡ của cộng đoàn là yêu tố rất quan trong để chúng ta giữ vững niềm tin của mình. Bởi thế, nếu một thành viên sống xa cộng đoàn xa gia đình, giáo họ, giáo xứ, chắc chắn sẽ dễ bị mại một đức tin, dễ bị thử thách và dẫn tới mất đức tin hơn.
Mừng lễ hai thánh tông đồ trong Năm Thánh Hóa Gia Đình, Giáo hội mời gọi chúng ta quy tụ bên nhau trong giờ kinh gia đình, để cùng nhau xét duyệt lại đời sống đức tin, đời sống gắn bó trong yêu thương và hiệp nhất ngay tại gia đình mình. Có được như thế, chúng ta sẽ giúp cho giáo xứ, giáo họ trở thành một cộng đoàn trưởng thành trong đức tin và đức ái. Và là một cộng đoàn sống sứ vụ của Chúa ki-tô là đem những con chiên lạc về cho Chúa. Vì gia đình là nên tảng của Giáo hội, gia đình tốt, Giáo hội sẽ trở nên tốt.
Xin hai thánh tông đồ Phêrô và Phaolô là cột trụ đức tin vững chắc của Giáo hội, chuyển lời cầu của chúng ta lên cùng Chúa. Xin Chúa ban thêm cho mỗi chúng ta ơn đức tin, để mỗi người chúng ta đều dành vòng hoa chiến thắng trong cuốc chạy đua trên đường đua đức tin. Amen.

                                                Sơn Tây, ngày 28 tháng 06 năm 2014

                                                     Xét duyệt của Đức Giám Mục


LỄ THÁNH GIUSE THỢ

LỄ THÁNH GIUSE THỢ
(St 1,26-2,3; Cl 3,14-15.17.23-24; Mt 13,54-58)

          Kính thưa cộng đoàn, cách riêng Quý thành viên hội Gia Trưởng giáo họ Tiên Cát,
          Hôm nay chúng ta cùng với toàn thể Giáo hội mừng lễ Thánh Giuse Thợ, là ngày Quốc tế lao động trên toàn thế giới, cũng là bổn mạng của Hội Gia Trưởng giáo họ Tiên Cát chúng ta. Nhân ngày lễ này, con xin được cùng với quý cộng đoàn, nhìn lại giá trị của lao động và mẫu gương lao động của thánh Giuse, từ đó, chúng ta đưa ra bài học theo gương sống của thánh nhân và cảm mến chân giá trị của đời sống lao động.
Đời sống lao động luôn gắn liền với con người: người ta có thể làm việc chân tay và có người dùng tới trí óc. Tất cả đều là lao động. Chắc chắn lao động nào cũng phải đổ mồ hôi, cũng phải vất vả. Tại sao lại như vậy? đây có phải là nguyên nhân mà chúng ta tự nhủ và truyền tai nhau là do hậu quả của tội nguyện tổ không?
Quan điểm ki-tô giáo về lao động: Thánh Kinh nói gì? Kinh thánh khẳng định: lao động không phải là một hình phạt do tội, nhưng là điều kiện bình thường của con người. Vì trước khi con người sa ngã, “Thiên Chúa đã đặt con người trong vườn Eđen để canh tác và giữ vườn” (St 2, 15), để con người được cộng tác và hòa hợp vào ý muốn của Thiên Chúa, vì Thiên Chúa muốn thấp nhập lao động vào chương trình của Người sau khi tạo dựng vũ trụ. Thiên Chúa đặt lao động vào tay con người với quyền chiếm hữu và cai trị trái đất (1, 28).
          Đây là một dữ kiện nền tảng của đời sống con người vì lao động gắn chặt đời sống con người, nên khi nguyên tổ sa ngã phạm tội, lao động đã bị ảnh hưởng sâu xa bởi tội: “Ngươi phải đổ mồ hôi trán mới có ăn” (St 3, 19).
Tại sao vậy, chúng ta phải hiểu thế nào, thưa, ta cần hiểu cho đúng. Đối tượng lời chúc dữ của Thiên Chúa không phải là lao động cũng như không phải là chính việc sinh nở của phụ nữ. Việc sinh nở là một chiến thắng đớn đau của sự sống trên cái chết, thì lao động đổ mồ hôi hằng ngày của con người đánh dấu việc thể hiện quyền bính mà Thiên Chúa đã ban cho con người.
Tại sao chúng ta thấy lao động là một nỗi khổ, là một hình phạt, thưa là vì trong con người chúng ta có sự thay đổi về đời sống nội tâm sau khi phạm tội, chúng ta đã nhìn thế giới, nhìn lao động bằng một cặp mắt khác.
          Trong cuộc sống hằng ngày, nơi các công trình xây dựng, hay đâu đó nơi các biển hiệu quảng bá, vẫn nhắc nhớ chúng ta rằng: Lao động là vinh quang. 
Vậy là người kitô hữu, chúng ta phải có được quan niệm về lao động với ý nghĩa cao cả như thế.
Phải đề cao lao động, Tại sao? Thưa bởi vì Đức Giêsu không bao giờ loại trừ lao động ra khỏi cuộc sống của Người. “Cha Tôi hằng làm việc, Tôi cũng làm việc” (Ga 5,17). Những người đồng hương với Đức Giêsu đã không lầm khi gọi Người là “con bác thợ” (Mt 13, 35), là “ông thợ mộc” (Mc 6, 3). Và Người đã sống nghề lao động trong suốt 30 năm trời tại Nadarét.
          Đức Giêsu lao động, Ngài đem lại ý nghĩa gì cho niềm tin chúng ta? Thưa, Đức Giêsu lao động là muốn nói lên rằng: lao động đã mang một ý nghĩa cứu độ Ngài đảm nhận thân phận con người cũng chỉ vì điều này, bởi “cái gì không được đảm nhận thì không được cứu độ” (Thánh Irênê). Cho nên phải nói rằng, với Đức Giêsu, 30 năm lao động âm thầm, Đức Giêsu chẳng những đã thánh hoá công việc, nhưng còn biến nó thành một phương tiện cứu độ khi liên kết nó với tất cả công trình cứu độ của Người. Cho nên, lao động là thành phần của mầu nhiệm Nhập Thể của Đức Kitô, nếu không thì những năm tháng tại Nadarét chẳng có một ý nghĩa nào khác ngoài việc Chúa lao động để kiếm miếng cơm manh áo?
          Lao động quả thật  phải được đề cao. Tuy nhiên, Đức Giêsu dạy ta không được dừng lại ở đó. Lao động chỉ là một giá trị trong bậc thang các giá trị mà thôi.
          “Hãy lao động đừng vì lương thực hư nát, nhưng vì lương thực sẽ lưu lại mãi mãi đến sự sống đời đời” (Ga 6, 27). Đây phải là châm ngôn sống của người kitô hữu.
          Người thực hiện châm ngôn sống rất hoàn hảo này trước tiên là Thánh Giuse. Ngài chắc hẳn là người đã sống ý nghĩa của lao động trong chính cuộc đời sống trần thế của ngài. Ngài là một mẫu gương lao động cần cù.
Đứng đầu gia đình thánh tại Nagiarét, thánh Giuse đã cần cù lao động, âm thầm thinh lặng và làm việc, đưa lại cho lao động một ý nghĩa cao sâu linh thánh. Thánh Giuse đã chấp nhận một công việc, một nghề tay chân: nghề thợ mộc. Với nghề thợ mộc, một nghề không có gì là vinh dự lắm trong xã hội Do Thái, thánh Giuse vẫn kiên trì phục vụ. Ngài làm việc với tất cả ý thức trách nhiệm của mình. Qua việc làm, qua nghề thợ mộc, thánh cả Giuse đã âm thầm chiêm ngắm mầu nhiệm nhập thể của Con Thiên Chúa là Đức Giêsu Kitô, Đấng đang sống nhờ nghề thợ mộc của Ngài. Nơi Nagiarét, thánh Giuse đã phục vụ hết mình: mồ hôi, sự mệt nhọc và lòng hy sinh, quảng đại cố gắng của thánh Giuse đã mặc cho lao động một ý nghĩa tốt đẹp.
Chúa Giêsu trong gia đình thánh nagiarét đã học nơi thánh Giuse sự cần mẫn lao động. Học nơi Mẹ Maria sự kiên nhẫn, đơn sơ phục vụ trong những công việc gia đình hết sức tầm thường nhưng là những công việc của đời thường, là những lao công của cuộc đời con người.
Khởi đi từ gia đình Nagiarét, người Kitô hữu trên khắp thế giới cũng được mời gọi yêu mến lao động dù là lao động chân tay hay lao động trí óc. Tất cả đều được gọi mời gắn liền với thánh cả Giuse, quan thầy và là Đấng bảo trợ của giới lao động. Trong một thế giới đan xen ánh sáng và bóng tối, trong một thế giới văn minh tuyệt đỉnh, lao động dù trí óc, chân tay hay kỹ thuật máy móc điện tử vẫn luôn cần thiết. Sự im lặng: nói ít, làm với hết khả năng, với óc sáng tạo luôn được đề cao, trân trọng. Thánh Giuse đã im lặng để phục vụ, để làm việc. Sự thinh lặng nội tâm của Ngài luôn có một ý nghĩa quan trọng. Thánh Giuse đã luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm: làm việc với đức tin, với lòng yêu mến.
            Trong năm thánh hoá gia đình, Giáo hội mời gọi tất cả mọi người tin hữu, đặc biệt mỗi thành viên của Hội Gia Trưởng đã nhận Ngài làm thánh bổn mạng xét lại việc lao động trong mọi gia đình, vì cuộc đời của từng con người liên kết chặt chẽ với công ăn việc làm của mình. Gia đình có đủ ăn, đủ mặc, gia đình có bảo đảm được vật chất, kinh tế của mình, đời sống tâm linh mới tốt hơn.
Thánh Giuse đã nêu gương cần lao, đã biến gia đình Nagiarét thành trường đào tạo công ăn việc làm với tất cả lòng tin yêu.
Chúa Giêsu cũng đã xuất thân trong gia đình Nagiarét, đã chấp nhận một công việc và làm cho việc lao động tràn đầy ý nghĩa.
Mừng lễ thánh Giuse thợ, chúng ta cầu xin thánh cả Giuse cầu thay nguyện giúp để mọi người, mọi gia đình, đặc biệt mỗi gia đình của thành viên trong Hội Gia Trưởng luôn yêu mến và nêu gương trong công việc của mình, vì những công việc chân chính sẽ giúp cộng tác vào công trình cứu độ của Chúa. Xin Chúa chúc phúc cho mỗi chúng ta. Amen.



Thứ Tư, 14 tháng 5, 2014

CHÚA CHỌN AI?

LỄ KÍNH THÁNH MATHIA TÔNG ĐỒ
(Cv 1,15-17.20-26; Ga 15,9-17)

CHÚA CHỌN AI?

            Kính thưa Quý chức BHG cùng toàn thể cộng đoàn,
            Thật là một sự trùng hợp trong ngày bế mạc khóa thường huấn của chúng ta hôm nay. Chúng ta được cùng với toàn thể Giáo hội mừng kính thánh Mathia tông đồ.       Vị tông đồ được chọn để thay thế Giuda Itcario, vào trong sứ vụ loan báo và làm chứng về Chúa Phục sinh.
            Ngày hôm nay, chúng ta cũng được học hỏi về HỌC THUYẾT XÃ HỘI, của GIÁO HỘI CÔNG GIÁO, là tài liệu giúp chúng ta có được định hướng, phán đoán và quyết định hoạt động đúng nhất, căn bản nhất trong đời sống xã hội của mình, theo đúng phẩm giá của người tin theo Chúa, để chúng ta loan báo Tin mừng phục sinh của Chúa trong mọi môi trường và hoàn cảnh sống của chúng ta.
            Mỗi một quý chức đang hiện diện nơi đây, cũng như toàn thể tín hữu, đều phải có một bổn phận là loan báo Tin mừng của Chúa tới cho toàn thể thế giới trong mọi nơi mọi lúc.
            Mỗi chúng ta phải làm thế nào đây? Thưa, Lời Chúa trong ngày mừng lễ thánh Mathia hôm nay, mời gọi chúng ta sống theo gương của thánh tông đồ Mathia.
            Thánh Mathia, là người được thánh Gioan Tẩy giả làm phép thanh tẩy, và dấn thân theo Chúa, là một môn đệ tin theo Chúa từ những ngày đầu Chúa ra đi rao giảng cho đến ngày Chúa Phục sinh và lên trời.
            Theo truyền tụng, sau khi được chọn vào số 12 tông đồ, ngài đã đi giảng dạy ở nhiều nơi. Và có nhiều giả thiết về cái chết của ngài:
1. Ngài bị tử đạo ở Ethiopia. Thi hài của ngài được đưa về Trier nước Đức và nhận ngài làm thánh bổn mạng của thành phố này. Xác của ngài được đưa về đây là nhờ sự vận động của thánh nữ Helena.
2. Ngài bị ném đá và bị chặt đầu dưới thời Nerô vào năm 63.
3. Theo người dân Hy lạp, thánh Matthia bị đóng đinh vào thập giá ở Côlehis. Và xác Ngài được đưa về Giêrusalem. Một phần các xương thánh vẫn còn ở đền thờ Đức Bà cả, nơi thánh nhân đã làm nhiều phép lạ. 
            Chúng ta không biết sử liệu nào chính xác, nhưng ở các nơi được giả thiết trên, người dân vân luôn sùng kính ngài. Và Giáo hội đã chọn ngày để mừng kính ngài.
            Noi theo gương thánh Mathia, mỗi chúng ta hôm nay cần xác tín và sống theo gương của ngài là: Lời nói đi đôi với việc làm. Suốt cuộc đời rao giảng của ngài là bài ca mời gọi mọi người phải sống hy sinh, hãm dẹp tính xác thịt và những ước muốn lăng loàn.
            Là người ki-tô hữu, chúng ta cũng luôn luôn được mời gọi sống và đi theo con đường Chúa đã đi. Cuộc sống của chúng ta phải được phác họa lại con người của Thầy Chí Thánh là Đức Giêsu, vị Mục tử Nhân lành, hy sinh mạng sống vì người mình yêu.
            Con đường theo Chúa của chúng ta, chắc chắn sẽ gặp nhiều khó khăn, thử thách, bắt bớ. Vì, môn đệ không hơn Thầy, tôi tớ không hơn chủ.
            Cuộc đời của thánh tông đồ Mathia, là một cuộc sống âm thầm, âm thầm trong cả những lời nói về ngài. Vì các bản văn Tin Mừng, tên ngài không hề được một lần nhắc đến. Dù ngài đã theo Chúa Giêsu kể từ lúc thánh Gioan thanh tẩy cho đến ngày ngài lên trời. Có thể suốt thời gian dài theo Chúa Giêsu có lúc ngài cũng chạnh lòng buồn tủi cho số phận; Một kẻ ham lợi và phản Thầy như Giuđa, một người nóng nảy nhưng nhát đảm như Phêrô, những kẻ muốn cậy dựa thân thế để mưu tìm bổng lộc chức tước như Gioan và Giacôbê. Họ là như thế, vậy mà họ được kể là nhóm mười hai, còn mình thì bị bỏ rơi quên lãng.
Tuy nhiên, cho dù có những lúc suy nghĩ và yếu đuối như vậy, thì lời dạy của Chúa Giêsu trong bài Tin Mừng hôm nay: “anh em hãy yêu thương nhau” là một trong những động lực giúp thánh Matthia vượt qua những cám dỗ này để rồi tuyệt đối trung thành với lời dạy của Thầy.
Mỗi người kitô hữu chúng ta hôm nay, hãy sống và lặp lại ơn gọi của thánh Matthia tông đồ. Chúng ta được mời gọi sống yêu thương trong gia đình, trong cộng đoàn giáo họ, giáo xứ, để xây dựng Giáo Hội yêu thương. Tuy nhiên, có thể đời sống và các hoạt động của chúng ta chẳng được một ai biết tới, tên của chúng ta chẳng bao giờ được nêu danh, hay chưa một lần được ghi trên bảng tin. Thế nhưng, nếu chúng ta luôn trung thành với lời mời gọi sống yêu thương, thì đến một lúc nào đó chúng ta sẽ được gọi tên. Người gọi tên chúng ta không ai khác là chính Thiên Chúa. Vì dù cho người đời có quên lãng thì Thiên Chúa vẫn luôn biết và quan tâm đến chúng ta.
Lạy Chúa, thánh Mathia biết sống theo lời Chúa dạy, nên đã được Chúa ban thưởng công phúc. Xin cho chúng con là những người đang sống Lời Chúa, biết noi gương thánh nhân để luôn trung thành với lời Chúa dạy, hày mai ngày cũng được cùng hưởng nhan thánh Chúa với ngài.
Xin thánh Mathia tông đồ, cầu thay nguyện giúp chúng con. Amen.


 

Sample text

Sample Text

Sample Text

 
Blogger Templates