Pages

Thứ Năm, 23 tháng 1, 2014

THIÊN CHÚA THẬT, CON NGƯỜI THẬT

CHÚA NHẬT IV MÙA VỌNG NĂM A
(Is 7,10-14; Rm 1,1-7; Mt 1,18-24)


Phêrô Trần Văn Hương

THIÊN CHÚA THẬT, CON NGƯỜI THẬT

            Kính thưa cộng đoàn,
            Chúa nhật hôm nay là Chúa nhật cuối cùng của mùa vọng, mùa mong đợi Đấng cứu thế đến. Ngày từ đầu mùa vọng, chúng ta đã có biết bao chương trình và những kế hoặch để mừng kỉ niệm biến cố Con Thiên Chúa xuống thế làm người như: quét dọn, trang trí nhà thờ, tập hát, tập văn nghệ, làm mới và dựng thêm nhiều hàng đá trong nhà thờ và tại các gia đình, các khu phố. Đây đó, tại các cửa hàng, các siêu thị, khu thương mại…cũng tạo nên một bầu không khí Giáng sinh thật sôi động và ấm cúng. Tất cả như đang hòa cùng một niềm vui, một sức sống trong ngày lễ trọng đại này. Nhưng có phải tất cả đều có cùng một niềm tin, tin vào Chúa Giêsu là Thiên Chúa thật và là người thật không? Câu hỏi này hôm nay vẫn luôn được đặt lại, và cần phải được đặt lại cho chính chúng ta trong đời sống đức tin. Câu trả lời sẽ có trong các bài đọc thánh lễ hôm nay.
            Bài đọc I, trích từ sách ngôn sứ Isaia, nói về biến cố vua Achaz đang đánh mất lòng tin và hoài nghi về Thiên Chúa khi vương quốc Giuđa đang bị đế quốc Assyria đe dọa. “Ngươi cứ xin Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi ban cho ngươi một dấu lạ dưới đáy âm phủ hoặc trên chốn cao xanh. Vua Achaz trả lời: tôi sẽ không xin, tôi không dám thử thách Đức Chúa” (Is 7, 11-12). Để củng cố lòng tin cho nhà vua, ngôn sữ Isaia đã tiên báo một dấu chỉ: “Nghe đây, hỡi Đa-vít! Các ngươi làm phiền thiên hạ chưa đủ sao, mà còn muốn làm phiên cả Thiên Chúa của tôi nữa? Vì vậy, chính Chúa Thượng sẽ ban cho các ngươi một dấu: Này đây người thiếu nữ mang thai, sinh hạ con trai, và đặt tên cho con trẻ là Em-ma-nu-en” (Is 7, 13-14). Em-ma-nu-en có nghĩa là Thiên Chúa ở cùng chúng ta.
            Quả thực, lời tiên báo về người phụ nữ sẽ sinh một người con trai có tên gọi là Em-ma-nu-en, nghĩa là “Thiên Chúa luôn ở cùng chúng ta”, đã ứng nghiệm ngay với vua Achaz. Ngay sau lời tiên báo, hoàng hậu vợ vua Achaz đã thụ thai và sinh cho nhà vua một thái tử. Đó là dấu chỉ chứng minh rằng Thiên Chúa luôn ở cùng nhà vua và sẵn sàng giúp đỡ ông nếu ông thực lòng phó thác, tin tưởng và trông cậy vào Thiên Chúa.
            Lời tiên báo này, mãi về sau mới được hiểu và coi đây chính là lời tiên báo về Đấng Messia sẽ đến là Đức Giêsu, chỉ trong Đức Giêsu, lời của ngôn sứ Isaia mới được hoàn tất. Tại sao vậy, thưa vì mỗi vị vua thuộc dòng dõi Đa-vít đều là hiện thân của lời hứa Thiên Chúa ở cùng chúng ta.
            Bài đọc II và bài Tin Mừng cho chúng ta thấy Đức Giêsu là Thiên Chúa thật và là người thật, không còn chỉ là lời tiên báo, nhưng lời tiên báo được ứng nghiệm. “Này đây người thiếu nữ mang thai, sinh hạ con trai, và đặt tên cho con trẻ là Em-ma-nu-en” (Mt 1,23).
            Khởi đầu bài Tin mừng hôm nay, Thánh Mát-thêu xác quyết cho ta về gốc tích của Đức Giêsu Ki-tô. Ngài là Ngôi hai Thiên Chúa đã sinh ra làm một con người như mọi người chúng ta: Mẹ Ngài là một người nữ mang tên là Maria, cha Ngài là một ông thợ mộc có tên là Giuse. Nếu chúng ta còn nhớ thì bài Tin mừng của ngày đầu tiên trong tuần bát nhật trước lễ Giáng Sinh, Thánh Mát-thêu đã trình bày nguồn gốc Đức Giêsu khởi đi từ ông tổ là Áp-ra-ham của cây gia phả: “Đây là gia phả Đức Giê-su Ki-tô, con cháu vua Đa-vít, con cháu tổ phụ Áp-ra-ham” (Mt 1,1).
Thánh Mát-thêu xác định rõ và chắc chắn cho chúng ta: Đức Giêsu là con người thật, có gốc tích từ thời tổ phụ Áp-ra-ham, thuộc con cháu vua Đa-vít. Đồng thời ngài cũng khẳng định cho ta: Đức Giêsu là Thiên Chúa thật khi trình bày cho ta biến cố truyền tin và việc Thiên Thần đến báo mộng cho ông Giuse biết việc Đức Maria thụ thai là do quyền năng của Chúa Thánh Thần: “Nhưng trước khi hai ông bà về chung sống với nhau, bà đã có thai do quyền năng Chúa Thánh Thần” (Mt 1, 18). Như thế, khẳng định rằng: Thánh Giuse chỉ là cha nuôi của Đức Giêsu. Thánh Giuse thuộc chi tộc vua Đa-vít, và theo luật pháp, khi ngài nhận Đức Giêsu làm con nuôi thì Đức Giêsu thuộc về dòng dõi vua Đa-vít. “Này ông Giuse, con cháu vua Đa-vít, đừng ngại đón bà Maria vợ ông về, vì người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần, bà sẽ sinh con trai và ông phải đặt tên cho con trẻ là Giêsu, vì chính Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ” (Mt 1,20-21).
Lời khẳng định Đức Giêsu là Thiên Chúa thật và là người thật cũng được nhắc lại trong bài đọc II, trích thư gửi tín hữu Roma. Thánh Phaolo xác tín niềm tin vào Đức Giêsu là Thiên Chúa thật và là người thật khi nói với tín hữu Roma rằng: “Xét như một người phàm, Đức Giê-su Ki-tô xuất thân từ dòng dõi vua Đa-vít. Nhưng xét như Đấng đã từ cõi chết sống lại nhờ Thánh Thần, Người đã được đặt làm Con Thiên Chúa với tất cả quyền năng” (Rm 1,4).
Kính thưa cộng đoàn,
Đức Giêsu là Thiên Chúa thật và là người thật. Ngài đã đến, Ngài đến cách chúng ta 2013 năm. Trải qua hơn 20 thể kỷ, Giáo hội vẫn loan truyền và mãi loan truyền niềm tin đó cho nhân loại. Mỗi dịp Giáng Sinh về, Giáo hội lại nhắc nhở con cái mình xác tín lại niềm tin vào Ngôi Hai Thiên Chúa đã xuống thế làm người. Ngài là Thiên Chúa thật và là người thật như chúng ta. Ngài đến để mang ơn cứu độ và giải thoát chúng ta khỏi mọi tội lỗi. Ngài đến thế gian để làm người, mang lấy thân xác yếu hèn của chúng ta, để cho ta được làm con cái của Ngài. Qua bí tích Thánh tẩy, chúng ta được làm con Chúa, được gọi Chúa là Cha. Chúng ta hãy sống thế nào để xứng với hồng ân cao cả đó.
Thánh Giuse trong bài Tin Mừng hôm nay, là mẫu gương cho mỗi người chúng ta:
Thánh Giuse luôn thể hiện được một tình yêu dâng hiến, luôn hướng về người khác, sẵn sàng hy sinh để làm người mình yêu có giá trị hơn và được hạnh phúc hơn. Ngài chấp nhận chịu thiệt thòi để người mình yêu được hưởng lợi. Chấp nhận đau khổ để người mình yêu được hạnh phúc. Sẵn sàng và luôn thông cảm, tha thứ cho người mình yêu khi có lỗi lầm.
Thánh Giuse luôn biết mở lòng ra lắng nghe và đón nhận Lời Chúa. Khi Thiên Thần giải thích cho ngài, ngài sẵn sàng đón nhận ý định của Thiên Chúa, cho dù ý đính đó rất trọng đại và vượt sức con người mình, nhưng ngài vẫn một lời xin vâng và phó thác.
Thánh Giuse có một đời sống đức tin sâu sắc và mật thiệt với Thiên Chúa, thề hiện qua việc ngài được mời gọi cộng tác vào công trình nhập thể của Ngôi Lời Thiên Chúa.
Mỗi chúng ta hãy noi gương thánh cả Giuse, biết sống cho tha nhân, biết sẵn sàng vâng theo ý Chúa và thể hiện một đức tin sâu sắc của mình trong cuộc sống hàng ngày, để cộng tác vào chương trình cứu độ của Thiên Chúa.
Lạy Chúa, xin cho chúng con biết mở lòng ra đón Chúa. Amen
           
                                               Sơn Tây, ngày 04 tháng 12 năm 2013

                                                     Xét duyệt của Đức Giám Mục


DỌN ĐƯỜNG ĐÓN CHÚA

CHÚA NHẬT II MÙA VỌNG NĂM A
(Is 11,1-10; Rm 15,4-9; Mt 3,1-12)


Phêrô Trần Văn Hương

DỌN ĐƯỜNG ĐÓN CHÚA

            Kính thưa cộng đoàn,
            Chúng ta đã bước vào mùa vọng, mùa mong chờ Chúa đến. Chúa đã đến, Ngài đã đến lần thứ nhất trong âm thầm, lặng lẽ tại hang đã Belem. Chúa sẽ đến, Ngài sẽ đến lần thứ hai trong chiến thắng khải hoàn vào ngày tận thế. Và trong khi đời chờ Chúa đến lần thứ hai, Ngài vẫn đang đến với cuộc đời của từng người chúng ta, qua các Bí tích và trong các biến cố cuộc đời. Đặc biệt, Ngài đến với chúng ta khi chúng ta nhắm mắt lìa khỏi thế gian này. Vậy chúng ta sẽ chuẩn bị những gì để sẵn sàng đón Chúa đến?
            Trước tiên chúng ta hãy nhìn lại xem dân Do Thái họ đã chuẩn bị như thế nào để đón Chúa. Trong khi đang khát khao mong chờ Chúa đến, dân Do Thái đã nghe thấy lời kêu gọi của thánh Gioan tiền hô: hãy sẵn sàng, hãy dọn đường, hãy sửa lối để Chúa ngự đến, và từ Giêrusalem, từ khắp miền Giuđêa và khắp vùng miền ven sông kéo đến. Họ đến xưng thú tội lỗi và xin được lãnh phép rửa để xứng đáng đón Chúa. Họ đến xin thay đổi cuộc sống cũ của mình, trở thành một con người mới, bằng việc sinh hoa kết trái là lòng sám hối ăn năn. Họ là ai, là những người có tâm hồn đơn sơ nghèo khó, những con người biết mở lòng ra đón nhận Chúa. Bởi đâu họ có được một sự quyết tâm như vậy? Thưa, vì lòng khát mong đón chờ Chúa, và vì họ đã được tiên báo về một viên cảnh Nước trời thật đẹp, là nơi hạnh phúc và bình an, nơi đem lại ơn cứu độ cho những tâm hồn đau khổ.
Ngôn sứ Isaia mô tả Nước Trời đó trong bài đọc I với những hình ảnh thật sống động. Ngài cho chúng ta chiêm ngắm trước về Nước Trời, nơi: “Sói sẽ ở với chiên, beo nằm bên dê nhỏ. Bò tơ và sư tử non được nuôi chung với nhau, một cậu bé sẽ chăn dắt chúng. Bò cái kết thân cùng gấu cái, con của chúng nằm chung một chỗ, sư tử cũng ăn rơm như bò. Bé thơ còn đang bú giỡn chơi bên hang rắn lục, trẻ thơ vừa cai sữa thọc tay vào ổ rắn hổ mang” (Is 11,6-8).
            Viễn cảnh Nước trời thật tuyệt vời, nơi không còn chiến chanh, không còn thù hận. Nơi đó, con người và các loài động vật sống hài hòa bên nhau. Đặc biệt, nơi đó, con người được chiêm ngắm tôn nhan Thiên Chúa.
            Thánh Kinh kể lại cho ta một vài mẫu gương như sau: Vì nhờ biết hoán cải đời sống, biết chuẩn bị sẵn sàng đón Chúa, những người có tâm hồn đơn sơ như Đức Maria, Ông thánh Simeon, bà thánh Anna… đã gặp được Chúa. Nhờ biết hoán cải và thay đổi đời sống mà Gia-kêu, Mát-thêu, Madalena.. đã được Chúa biến đổi thành con người mới.
Vâng, Nước Trời là nơi dành cho những con người sống đơn sơ như trẻ nhỏ, dành cho những người biết sửa đổi tâm hồn, sống niềm tin phó thác vào Chúa.
Kính thưa cộng đoàn,
            Chúa đến, đem lại hòa bình, sự thịnh vượng, sự bình an và ơn cứu độ cho hết mọi người. Đó là một Nước của sự giao hòa, không còn chia rẽ, hận thù. Nước của bình an và niềm hạnh phúc, không còn chiến tranh, Nước của sự bình an mà muôn dân hằng mong đợi. Bởi thế, tác giả thánh vịnh 71, 2.7-17 đã cầu nguyện xin cho nước ấy mau ngự đến: “Sự công chính và nền hòa bình viên mãn, sẽ triển nở trong triều đại Người, cho đến khi mặt trăng không còn chiếu sáng”. “Vì người sẽ giải thoát kẻ nghèo hèn khỏi tay kẻ quyền thế và sẽ cứu người bất hạnh không ai giúp đỡ. Người sẽ thương xót kẻ yếu đuối và người thiếu thốn, và cứu thoát mạng sống kẻ cùng khổ”.
            Khi đã trở thành con cái của Nước Trời, chúng ta phải có một cuộc sống mới, cuộc sống mới trong Nước Trời là sự thông cảm cho nhau, tiếp rước nhau và phục vụ nhau. Đó là lời dạy của Thánh Phao-lô gửi tín hữu Rô-ma trong bài đọc II: “Xin Thiên Chúa nguồn kiên tâm và an ủi, ban cho anh em biết thông cảm với nhau theo gương Chúa Giêsu Ki-tô” (Rm 15,5). “Anh em hãy tiếp rước nhau như chính Chúa Giêsu Ki-tô đã tiếp nhận anh em để làm rạng danh Thiên Chúa” (Rm15,7). Và “Vì để chứng tỏ sự chân thật của Thiên Chúa, Đức Giêsu Ki-tô đã phục vụ những người chịu phép cắt bì, hầu để xác nhận lời hứa cùng các tổ phụ…vì vậy, lạy Chúa, tôi sẽ cao rao Chúa và sẽ ca tụng danh Chúa giữa các dân ngoại” (Rm 15, 8-9).
            Kính thưa cộng đoàn,
            Chúng ta đang trên đường tiến về Nước Chúa, nơi đem lại sự bình an, hạnh phúc đích thực. Chúng ta sẽ là công dân đích thực của Nước Chúa. Chúng ta sẽ có cuộc sống mới, và cuộc sống mới đó đã và đang được thể hiện ngày ở cuộc sống hiện tại này. Chúng ta đã làm được chưa, đã sống như thế nào, và chuẩn bị hành trang gì cho xứng đáng là công dân của Nước Trời ngay tại trần thế này?
            Vẫn biết con người chúng ta là yếu đuối, là tội lỗi, là nhân vô thập toàn. Chúng ta hãy bắt đầu bằng các việc làm mà bài Tin mừng hôm nay đã dạy, để chúng ta sống xứng đáng là công dân Nước Trời: Ăn năn sám hốisửa lối cho ngay thẳng, san phẳng những hố ghập ghềnh để Chúa đi.
            “Hãy ăn năn sám hối, vì nước trời đã gần đến. Hãy dọn đường Chúa, hãy sửa đường Chúa cho ngay thẳng” (Mt 3, 2-3).
Ăn năn sám hối trở về, là từ bỏ lối sống cũ, trở về sống cuộc sống mới, cuộc sống trong Đức Giêsu, từ bỏ lối sống xa Chúa, trở về sống với Chúa và trong Chúa, từ bỏ lối sống thờ ơ, lãnh đạm, xa lánh, trở về sống gần gũi, thân mật với Chúa.
Ít nhiều trong chúng ta đã có những cách sống không phù hợp, hoặc đối nghịch với Lời Chúa: là những đam mê sai lạc, những tranh chấp danh vọng, tiền tài, quyền hành bất chính. Hay lối sống của kiêu căng, ngạo mạn, tâm đia gian mạnh, không trung thực, giả hình. Hay có những khi vì yếu đuối mà cuộc sống chúng ta trở nên thiếu sót, yếu hèn, lỗi phạm, thiếu lòng tin, niềm trông cậy và lòng mến nơi Thiên Chúa.
Chúng ta hãy đứng lên, và đến với bí tích Hòa Giải, để giao hòa với Chúa và với anh em, nhờ đó tâm hồn chúng ta sẽ trở nên tươi mới, xứng đáng đón nhận Chúa vào tâm hồn mình. Khi tâm hồn được thư thái bình an, chúng ta sẽ có một cuộc sống bình an và hạnh phúc. Làm được như vậy, chúng ta phải không ngừng cầu xin Thiên Chúa, ban cho chúng ta có một tâm hồn nghèo khó, siêu thoát, khiêm nhường, chân thật và một lòng đạo đức sốt mết. Hơn nữa, chính bản thân chúng ta phải không ngừng nỗ lực rèn luyện qua việc:
- Năng tham dự thánh lễ và rước Mình Thánh Chúa.
- Năng đọc và suy niệm Lời Chúa, để Lời Chúa sẽ dẫn đường chỉ lối cho chúng ta biết phải làm gì, và làm như thế nào cho xứng.
- Năng xét mình và kiểm điểm đời sống hàng ngày
Khi làm những việc này với lòng yêu mến và nhờ ơn Chúa, chúng ta sẽ được Chúa biến đổi trong Thần Khí Chúa.
            Lạy Chúa Giê-su, xin Chúa hãy đến, xin Chúa đến với chúng con, biến đối chúng con nên con người mới. Xin cho chúng con biết sống theo tiếng nói Tin Mừng của Chúa, để mỗi ngày, chúng con được tiến đến gần Chúa hơn, xứng đáng là công dân Nước Trời. Amen.


                                               Sơn Tây, ngày 04 tháng 12 năm 2013

                                                     Xét duyệt của Đức Giám Mục

                                                                               


NGÀY CHÚA ĐẾN BẤT NGỜ

CHÚA NHẬT I MÙA VỌNG NĂM A
(Is 2,1-5; Rm 13,11-14; Mt 24,37-44)


Phêrô Trần Văn Hương

NGÀY CHÚA ĐẾN BẤT NGỜ
           
            Kính thưa cộng đoàn,
            Hôm nay, chúng ta cùng với Giáo hội bước vào năm Phụng vụ mới, với hành trình mới, hành trình của đức tin. Khởi đầu cho năm phụng vụ là Mùa vọng, được kéo dài trong bốn tuần lễ. Đây là thời gian đặc biệt Giáo hội mời gọi con cái mình mừng kỷ niệm biến cố Chúa Nhập Thể làm người, mặc lấy xác phàm, trở nên giống chúng ta mọi đàng, ngoại trừ tội lỗi, và đặc biệt mời gọi con cái mình chuẩn bị tâm hồn đón chờ ngày Chúa quang lâm. Đó là hai ý nghĩa chính trong mùa vọng.
            Thực tế, nhiều khi chúng ta lầm tưởng Mùa vọng là mùa chỉ mong chờ Lễ Giáng Sinh, cho nên bắt đầu bước vào Mùa vọng, các giáo xứ, giáo họ, các gia đình, bắt đầu lên chương trình cho việc tổ chức mừng lễ thật hoành tráng, linh đình; làm sân khấu, tập múa hát, tập kịch, trang trí đèn điện, viết thiệp chúc mừng…. Mọi cộng việc đã làm cho chúng ta quên đi phần quan trọng và chính yếu của Mùa vọng là mong chờ Chúa đến. Bởi thế, công việc chúng ta cần chuẩn bị hơn, là trang hoàng tâm hồn, sửa soạn con tim, để sắn sàng đón chờ Chúa đến.
            Chúa đến, Ngài sẽ ban cho chúng ta một tương lai, một tương lại thật tốt đẹp và hạnh phúc. Tương lai đó đã được tiên tri Isaia tiên báo trong bài đọc thứ nhất: “Trong tương lai, núi Nhà Đức Chúa đứng kiên cường vượt đỉnh các non cao, vươn mình trên hết mọi ngọn đồi” (Is 2,2). Nhờ đức tin: “Dân dân lũ lượt đưa nhau tới, nước nước dập dìu kéo nhau đi. Đến đây, ta cùng lên núi Đức Chúa, lên Nhà Thiên Chúa của Gia-cóp” (Is 2, 2-3). Tại nơi đây, Thiên Chúa sẽ dạy cho ta biết lối của Người và để ta bước theo đường Người chỉ vẻ. Khi toàn dân quy tụ về bên Chúa, Ngài sẽ đứng ra để làm trọng tài, phân xử công mình cho mọi quốc gia.  Một cuộc sống thái bình, thinh vượng cho những ai nhận biết và tôn thờ Thiên Chúa: “ Họ sẽ đúc gươm đao thành cuốc thành cày, rèn giáo mác nên liềm nên hái.      Dân này nước nọ sẽ không còn vung kiếm đánh nhau, và thiên hạ thôi học nghề chinh chiến” (Is 2,4).
Ngày bình an và hạnh phúc sẽ đến, chắc chắn là sẽ đến, những đến khi nào, lúc nào và ở đâu, quả thực không ai biết. Bởi thế, Đức Giêsu trong bài Tin mừng hôm nay, đã dạy chúng tả phải biết canh thức và sẵn sàng vì:
Ngày ấy sẽ đến một cách bất ngờ giống như thời ông Nô-ê. Ngài biết con người ở thời của Ngài và của mọi thời đại, chỉ thích sống hưởng thụ, lo làm giàu, sống tiện nghi, lo cưới vợ gả chồng…chỉ lo cho những chuyện thế tục, không biết đến ngày Chúa quang lâm. Đức Giêsu nói:  “Thời ông Nô-ê thế nào, thì ngày Con Người quang lâm cũng sẽ như vậy. Vì trong những ngày trước nạn hồng thuỷ, thiên hạ vẫn ăn uống, cưới vợ lấy chồng, mãi cho đến ngày ông Nô-ê vào tàu. Họ không hay biết gì, cho đến khi nạn hồng thuỷ ập tới cuốn đi hết thảy” (Mt 24,37-39). Qua câu chuyện này, Đức Giêsu cho ta thấy sự khác nhau giữa thiên hạ và ông Nô-ê ở chỗ biết chuẩn bị sẵn sàng. Thiên hạ bị nạn hồng thủy ập tới cuốn đi hết, còn ông Nô-ê đã chuẩn bị sẵn cho mình những điều cần thiết khi cơn nước lũ đến.
Ngày Chúa đến không ai biết, và đến một cách bất ngờ, giống như chủ nhà kia không biết tên trộm đến vào giờ nào. Nếu biết  trước giờ nào kẻ trộm đến, thì chắc chắn không để cho tên trộm khoét vách vào nhà mình. Vậy, chúng ta phải làm gì để chuẩn bị sẵn sàng khi Chúa đến với mỗi người chúng ta, là ngày chúng ta không còn ở trần gian này.
Trước hết, chúng ta hãy có một cuộc tỉnh thức và cảnh giác. Vì không tỉnh thức và cảnh giác, chúng ta sẽ rước tai họa vào mình. Tên trộm trong câu chuyện Đức Giêsu kể, sẽ đến cách bất ngờ không báo trước. Điều bất ngờ sẽ làm cho gia chủ mất cảnh giác, không để ý tới, đây chính là lúc thuận tiện để tên trộm hành động. Nói đến việc phải sống cảnh giác, đôi khi làm chúng ta hiểu lầm Chúa giống như tên trộm. Khi chúng ta sống không cảnh giác thì Chúa sẽ đến. Không phải như thế, mà Chúa muốn chúng ta phải luôn luôn sống trong sự sẵn sàng, đợi ngày Chúa đến bất cứ lúc nào, khi nào. Vì Chúa đến sẽ đem niềm vui, sự bình an. Chúa không đến để làm cho chúng ta phải đau khổ và sợ hãi, như tên trộm.
Tiếp đến, chúng ta phải luôn có thái độ sống ngày hôm nay là ngày cuối cùng của cuộc đời, giây phút chúng ta đang sống đây là giây phút cuối cùng của cuộc đời. Vì thái độ sống của con người hôm nay, luôn cho rằng chúng ta còn nhiều thời gian, cứ từ từ, ngày mai sẽ tính. Bây giờ cứ sống cho thoải mái, ăn chơi cho thỏa thích, khi nào sắp chết hãy tính; Chỉ cần ăn năn xứng tội, là Chúa sẽ tha hết. Nhưng cuộc sống không ai học được chữ ngờ, chúng ta chỉ biết được ngày sinh ra, nào ai biết được ngày mình sẽ chết.
Lịch sử có ghi lại câu chuyện sau đây, phần nào giúp chúng ta hiểu rõ hơn điều này: Pháp quan Archais ở Thebea đang ngồi uống rượu với một số đông dũng sĩ của mình, bỗng có một sứ giả bước vào mang cho ông một bức thư báo cáo về một âm mưu sát hại ông. Thay vì mở ngay bao thư ra đọc, ông nhét ngay vào trong túi và nói: “Để mai sẽ hay”. Và đêm hôm đó ông bị giết chết.
Vị pháp quan Archais đã bỏ qua sứ điệp ấy sang một bên vì ông không ngờ rằng mình sắp chết. Nếu chúng ta không muốn giống như vị pháp quan đó, chúng ta phải làm gì?
Kính thưa cộng đoàn,
Chúa đã báo trước rằng: ngày Chúa đến rất bất ngờ, không ai biết. Cho nên, chúng ta cũng phải sẵn sàng, tỉnh thức để đón chờ ngày đó, qua việc năng đọc kinh, tham dự thánh lễ và rước Mình Thánh Chúa hằng ngày. Chỉ có như thế, chúng ta mới mong được Chúa ban thưởng Nước trời, là quê hương đích, nơi sự bình an, hạnh phúc viên mãn đang chờ đợi chúng ta. Amen.



                                               Sơn Tây, ngày 26 tháng 11 năm 2013

                                                     Xét duyệt của Đức Giám Mục

                                                                            Đã ký

Thứ Ba, 14 tháng 1, 2014

Nguyễn Khắc Dương: Một người trí thức Việt Nam nhập đạo nói về cảm nghiệm “Đi tìm Giáo Hội”

Nhiều người thích đọc lời mô tả hết sức cổ điển về Giáo Hội trong cuốn tiểu thuyết của Myles Connolly, viết năm 1951, đã hơn 60 năm qua, tựa là Dan England and the Noonday Devil. Lời mô tả này nhắc ta nhớ rằng Giáo Hội không phải là một định chế mà là một Thân Thể, là Chúa Kitô. Xin nhường lời cho Myles Connolly:
Với tôi, Giáo Hội là tất cả những điều quan trọng ở khắp mọi nơi. Giáo Hội là thẩm quyền và hướng dẫn. Giáo Hội là hy vọng và bảo đảm. Giáo Hội là Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Giáo Hội là Đức Bà và Thánh Giuse. Giáo Hội là Thánh Phêrô và Đức Piô XII. Giáo Hội là giám mục và cha xứ. Giáo Hội là giáo lý và là mẹ đang cúi xuống nôi dạy ta đọc kinh tối. Giáo Hội là nhà thờ chính tòa thành Chartres và là túp lều với thánh giá trên nóc ở Ulithi. Giáo Hội là các tử đạo tại Colosseum và các tử đạo tại Uganda, các tử đạo tại Tyburn và các tử đạo tại Nagasaki. Giáo Hội là vị nữ tu già và cô dự tu mắt đầy tha thiết. Giáo Hội là gương mặt rạng rỡ của vị tân linh mục dâng thánh lễ mở tay, và là cậu bé giúp lễ ngái ngủ để lộ đôi giầy trắng chơi quần vợt đã cũ mèm dưới chiếc áo giúp lễ đen…
Giáo Hội là đỉnh tháp nhọn thoáng thấy từ cửa sổ xe lửa và là nhà thờ thu nhỏ hình thánh giá nhìn xa từ trên cao máy bay nhìn xuống. Giáo Hội là Thánh Lễ 6 giờ sáng với một nhúm thánh nhân vô danh tại chấn song rước lễ trong bóng tối mờ nhạt và là Thánh Lễ đại trào với đám đông vĩ đại và vẻ huy hoàng sáng lạn tại Nhà Thờ Thánh Phêrô… Giáo Hội là Ca Đoàn Nhà Nguyện Sistine và là đoàn rước kiệu Tháng Năm của trẻ em Trung Quốc miệng hát Lạy Nữ Vương Thiên Đàng ở Bắc Kinh.
Giáo Hội là tu sĩ Carthusian trẻ trung tại Monte Allegro và là tu sĩ Dòng Tên đang dạy nhận thức luận ở Tokyo. Giáo Hội là linh mục gốc Scheutveld của Bỉ đang chiến đấu chống bệnh ngủ tại Congo và là tu sĩ Dòng Chúa Cứu Thế đang tranh đấu chống thành kiến tại Vermont. Giáo Hội là tu sĩ Biển Đức, Augustinh, Thương Khó, Đa Minh, Phanxicô. Giáo Hội là mọi tu sĩ và đặc biệt Dòng Các Cha Xứ vĩ đại nhưng vô danh.
Giáo Hội là Nữ Tu Cát Minh đang đốt những ngọn nến cho buổi kinh chiều trong cái giá lạnh thê lương của Iceland và là Nữ Tu Đức Bà Namur đang may những chiếc khăn trùm Rước Lễ Lần Đầu tại Kwango. Giáo Hội là Nữ Tu Vincentian đang chăm sóc một người Da Đen Baptist sắp chết vì ung thư tại Alabama và là Nữ Tu Maryknoll đang đối diện với một ủy viên Cộng Sản tại Manchuria. Giáo Hội là Nữ Tu Dòng Trắng đang dạy những người Ả Rập nghề làm thảm tại Sahara và là Nữ Tu Chúa Chiên Lành tại St Louis đang cung cấp nơi ẩn náu cho một đứa trẻ bị bỏ rơi, một mái ấm cho con chiên lạc. Giáo Hội là Nữ Tiểu Muội của Người Nghèo đang thoa thuốc mỡ cho những vết lở loét của một ông già bị bỏ rơi ở Marseilles, là Nữ Tu Áo Xám đang phục vụ những người cùng khốn tại Haiti, là Nữ Tu Thánh Thể đang giúp một thanh niên Da Đen làm thơ tại New Orleans. Giáo Hội là Nữ Tu Bác Ái… Giáo Hội là tất cả các Nữ Tu khắp nơi.
Giáo Hội là người đàn bà nhăn nheo đang giữ cho tươi mát những bó hoa trước bàn thờ Đức Mẹ và là người nữ giáo lý viên trẻ đang dạy các tân tòng đi chân đất tại những đồi núi xa xôi. Giáo Hội là thiếu nữ đang từ bỏ cuộc chơi bài để lái các Nữ Tu tới trại giam và nhà người nghèo, và là người đàn bà tới từng cửa xin giúp đỡ các trẻ mồ côi. Giáo Hội là bà mẹ hãnh diện của vị linh mục và là bà mẹ đứt ruột đứt gan của tội nhân. Giáo Hội là tất cả các bà mẹ và bà chị bà em đang khóc, đang đau, và đang cầu nguyện để những người con trai, người anh, người em trai duy trì được đức tin.
…Giáo Hội là những bài giảng xấu và những bài giảng tốt, những ơn gọi giả và những ơn gọi thật. Giáo Hội là người thanh niên cao lớn đi Đàng Thánh Giá mỗi chiều và là người cha của mười đứa con đang đẩy xe đưa đứa con bị bệnh đi Lễ sáng Chúa Nhật tại Bệnh Viện Quận.
Giáo Hội là Thánh Martin và Thánh Martin de Porrès, Thánh Augustinô và Thánh Phocas, Thánh Grêgôriô Cả và Thánh Grêgôriô Thaumaturgus, Thánh Ambrôsiô và Charles de Foucault, Thánh Inhaxiô Tử Đạo, Thánh Thomas More và Thánh Barnaba. Giáo Hội là Thánh Têrêxa và Thánh Philomena, Gioan thành Arc và Thánh Winefride, Thánh Annê và Thánh Maria Euphrasia. Giáo Hội là tất cả các thánh, xưa và nay, được nêu danh và không được nêu danh, và mọi kẻ tội lỗi.
Giáo Hội là tiếng bật ca Sáng Danh vào Thứ Bẩy Tuần Thánh và là hang đá tù mù trong Thánh Lễ hừng đông vào Lễ Giáng Sinh. Giáo Hội là phẩm phục mầu hồng của Chúa Nhật Laetare (Hãy Vui Lên) và là chiếc áo khoác làm việc mầu lam của linh mục đang làm việc với các lao công tại một hầm mỏ ở vùng Ruhr.
Giáo Hội là những đôi giầy mới bóng loáng và các khuôn mặt đầy tôn kính của cô dâu và chú rể Tháng Sáu đang qùy trước bàn thờ phủ hoa trắng trong Thánh Lễ Hôn Phối, và là người mẹ trẻ tái nhợt, bối rối tại giếng rửa tội, vì niềm vui của bà trộn lẫn với nỗi lo âu khi thấy đứa con đầu lòng khóc lời phản đối nước rửa tội. Giáo Hội là hàng nối đuôi dài, mờ ảo, nhấp nhô các hối nhân đang đứng chờ ngoài tòa giải tội lúc chạng vạng của một buổi chiều mùa đông, mỗi người đều cách biệt và cô đơn một cách long trọng với các tội lỗi của riêng mình, và là hình ảnh đang khom lưng của một linh mục in bóng lên các chiếc đèn chiếu của xe cảnh sát trên xa lộ tối đen khi ngài đọc những lời kinh cuối cùng trên thân xác tan nát đang nằm trên vỉa hè bên cạnh chiếc xe bẹp dúm.
Giáo Hội là Kinh Magnificat và là kinh tạ ơn đọc trước các bữa ăn. Giáo Hội là cuốn sách lễ nhầu nát và là bức tượng sứt mẻ của Thánh Antôn, là chiếc hộp thu tiền cho người nghèo và là chiếc chuông nhà thờ đã nứt nẻ. Giáo Hội là Chiếc Cửa qua đó tôi bước vào đức tin và là Chiếc Cửa qua đó, nếu Chúa muốn, tôi sẽ ra đi về miền vĩnh cửu.
Chổi cùn, bút lông vô giá trị
Giáo Hội quả là các thánh và những người tội lỗi. Năm 1986, tại Đà Lạt Việt Nam, một người trở lại Đạo Công Giáo năm 1949 lúc Việt Nam đang cựa mình thật mạnh trong giấc mơ độc lập của mình, cũng có cùng một ý nghĩ ấy về Giáo Hội. Đó là ông Nguyễn Khắc Dương, cựu quyền khoa trưởng khoa văn Đại Học Đà Lạt, tác giả hồi ký Quia Dilexit Humilitatem Meam (Vì Người Thích Sự Khiêm Nhường Của Tôi). Bỏ ngoài các nhận định về chính trị, là những nhận định có thể gây tranh cãi, cuốn tự thuật này quý giá ở chỗ cho ta cái nhìn rất trung thực của một người, sau khi đã trải qua nhiều kinh nghiệm tâm linh, cuối cùng đã chọn Thầy Giêsu làm lẽ sống trong lòng Giáo Hội.
Nguyễn Khắc Dương vốn là em ruột Nguyễn Khắc Viện, một trong các lý thuyết gia hàng đầu về văn hóa của Cộng Sản Bắc Việt, nên hồi nhỏ, đương nhiên không thích Đạo Công Giáo. Cũng như nhiều người khác, cậu tin rằng Đạo này có trách nhiệm dẫn đường cho Pháp cướp nước ta. Đạo này còn là “tà đạo” dạy những điều mê tín dị đoan, có những lễ nghi kỳ quặc… Người Công Giáo lại “cứ quây quần trong mấy xứ đạo như tách rời khỏi cộng đồng dân tộc, do mấy cố đạo chỉ huy, gây ấn tượng làm sao ấy! Thấy người Công Giáo ra vào lui lủi nơi các toà giải tội, lên “lè lưỡi” rước lễ, rồi trở về mắt nhắm tay chắp gối quỳ – thật là không tài nào chịu nổi! Và nhìn người Công Giáo nào cũng có vẻ như bị “bùa mê”, như “mê” một cái gì đó, bị một ma lực nào quyến rũ, ám ảnh, mê hoặc (possédé, envouté)! Cho nên, chúng tôi – con nhà khoa bảng, học thức – hơi có vẻ khinh đạo Công Giáo, cho như là một hình thức quyến rũ, mua chuộc, mê lú, mà các cố đạo đã đánh bả cho một lớp người hạ lưu trong xã hội! Trong họ vừa có cái gì dễ ghét, vừa có cái gì đáng tội nghiệp như là những người bị mê hoặc”.
Nhưng cậu ấm con quan này thi hỏng chương trình Việt vì môn chính tả, nên bà mẹ gửi vào Huế học chương trình Pháp không có môn chính tả tại tư thục Công Giáo Thiên Hựu. “Vào học trường Thiên Hựu, tôi được dấn bước vào thế giới Công Giáo, mà dần dần khám phá ra những giá trị của nó”. Trước hết là sự tận tâm chức nghiệp của các linh mục giáo sư. “Điều thứ hai là ‘tình yêu người’ được bộc lộ ra qua cách đối xử”. Theo Nguyễn Khắc Dương, yêu khác thương. Khổng Giáo và Phật Giáo đều dạy thương người, thậm chí thương cả vạn vật nữa, “nhưng ‘yêu’ người thì hình như chỉ có đạo Kitô mới dạy và mới giúp người ta thực hiện được”. Vì yêu là xem người yêu như “một giá trị duy nhất vô nhị và không thể thay thế… và như thế là mình được nhìn nhận đúng phẩm giá làm người của mình, như là một ngã vị, một chủ thể duy nhất, như là được lên ngôi”. Yêu không hẳn là một đức hạnh (vertu) mà là một tác phong (comportement) “bắt nguồn từ một cảm thức dựa trên căn bản một nhận thức nào đó về giá trị con người”.
Nguyễn Khắc Dương cho rằng vị thượng tọa cậu quen biết, về mặt luân lý, “có lẽ ít linh mục Công Giáo nào sánh kịp”, có thể “liều chết cứu tôi, nhưng động thái (comportement) của ngài có cái gì lạnh nhạt. Tôi có cảm tưởng dù thương tôi hết sức, nhưng ngài thương tôi trong cái đại từ bi vô ngã đối với một chúng sinh vô ngã như bất cứ chúng sinh nào! Và tôi xin vô lễ (vì tôi rất kính mến ngài) mà cả gan suy diễn rằng có lẽ ngài xót thương cho cái chấp ngã hiện hữu của tôi, thay vì vui mừng vì hiện hữu của tôi như một ‘ngã vị’. Và xin thú thật rằng: tôi rất tôn kính Đức Thích Ca, nhưng mỗi lần chiêm ngưỡng tượng Ngài điềm nhiên trên toà sen, tôi vẫn có cảm tưởng như vậy. Tôi được chiếu rọi bởi ánh từ bi của Ngài, nhưng không có cảm tưởng được sưởi ấm cõi lòng bởi lửa yêu mến của Ngài”.
“Sau này tôi mới hiểu rằng cái ấn tượng người Công Giáo như bị “bùa mê thuốc lú”, bị “thần ám” (possédé), bị “huyễn hoặc” (envouté) không phải là không có lý do! Bởi vì trong căn bản, người Công Giáo là kẻ có cảm thức được yêu bởi Thiên Chúa, được yêu một cách khủng khiếp (được yêu mà cũng có thể nói là bị yêu, vì tình yêu nào cũng có tính cách ràng buộc: nợ tình) và được mời gọi đáp lại tình yêu như vậy. Có cái gì như kẻ si tình, chứ không phải bậc Đại Giác, Đại Ngộ như Phật dạy. Si ở đây bắt nguồn từ sự điên rồ của màu nhiệm Khổ giá (la folie de la croix); và như chữ Thương khó, khổ nạn (passion) không phải không có âm hưởng của cái gì như là đam mê (cũng là passion). Sự so sánh các thánh Kitô giáo với các thiền sư, đạo gia, thì một bên có cái gì da diết, đầy đam mê (passion), một bên thì thanh thản, đầy minh triết (sagesse)”.
Rồi nhờ học giáo lý, Nguyễn Khắc Dương khám phá ra Chúa Giêsu. “Cuộc đời của Đức Giêsu trước hết gợi lên lòng thương của tôi đối với một người vô tội bị oan khiên, sau là sự hấp dẫn của một người dịu dàng, đơn sơ, bình dị. Có thể nói tình cảm đầu tiên đối với Ngài là lòng thương mến (có pha trộn một chút tội nghiệp nào đó) hơn là lòng tôn kính đối với một bậc tôn sư: có một cái gì như tình bạn ít nhiều bình đẳng giữa hai người cùng hội cùng thuyền. Ấn tượng đầu tiên đối với Ngài có cái gì tương tự như sự an ủi của mẹ hiền, bạn quí, hàn gắn thương đau, khuyết điểm, khuyến khích về mặt cảm tính khi chán nản; sưởi ấm cõi lòng khi cô đơn – nhiều hơn là một vị tôn sư dạy một giáo thuyết”.
Cậu cho rằng “sự hấp dẫn của chúa Giêsu hình như do chính con người và cuộc đời của Ngài từ việc sinh ra trong máng cỏ, qua 30 năm âm thầm lặng lẽ, ba năm nay đây mai đó, trà trộn với dân chúng, rồi bị giết oan, nhiều hơn là do đạo lý Ngài truyền dạy. Bởi vì, xét về mặt tâm lý đạo đức thì các bài dạy của Ngài cũng chẳng có gì là cao siêu tuyệt vời, nhưng điều làm cho tôi cảm mến Ngài chính là “con người” và “cuộc sống” (gồm cả cái chết của Ngài): sa “personne” et sa “vie”. Đã có cảm tình với Ngài rồi thì khó quên, khó phai và hình như càng lâu càng thắm thiết hơn… Đối với các bậc thánh hiền khác, thì có thể nhớ bài dạy của Ngài mà quên đi con người và cuộc đời của các ngài. Đối với Đức Giêsu thì khác hẳn: đôi khi quên lời Người dạy, nhưng chính Ngài thì không quên được. Và có lẽ càng hay sống trái lời Ngài dạy, thì hình ảnh Ngài lại càng thêm xoáy vào tâm khảm… nhớ quay nhớ quắt, nhớ quằn quại đến độ không chịu được!… Thông minh, tài trí, dũng cảm… Có lẽ nhiều người hơn Giêsu, nhưng đáng yêu nhất thì có thể chỉ có duy nhất một mình Ngài mà thôi!”
Rồi cậu “gặp Pascal”, một thiên tài “cuối cùng đã vất bỏ tất cả để sống một cuộc đời cống hiến cho Chúa Giêsu! Vì sao? Vì Pascal đã cảm nghiệm được rằng Giêsu đã yêu Pascal đến chết, Giêsu đã nhỏ những giọt máu cho Pascal. Và Pascal đã nhìn nhận Giêsu là Thiên Chúa”.
Nhưng hình như Đấng Giêsu này đã bị Giáo Hội do Người sáng lập, ít nhất là cái Giáo Hội trước mắt Nguyễn Khắc Dương, tức Giáo Hội Việt Nam đang ở lúc trưởng thành, phản bội. Vì cái Giáo Hội này đã biến “con chiên bổn đạo” thành “một đàn cừu của Panurge!”: khúm núm, khép nép, cúi đầu “trước một ông Trời làm chúa tể qua trung gian mấy cha cố”, nhất là các cha cố Tây. Cậu cho rằng “Tin vui cứu chuộc của Giêsu đã bị Giáo Hội biến thành một thứ bùa mê để thao túng, cầm buộc con người trong một xiềng xích tinh thần, làm cho con người trở nên ngoan ngoãn, hiền lành, dễ bảo, dễ trị; nhưng thiếu khí phách, thiếu tự do phóng khoáng – cởi mở – tiến bộ: một dạng “ngu dân” nào đó!”. Trái ngược “với Giêsu Na-da-rét là người đã có ý muốn nâng cấp cứu vớt con người, nhất là lớp người thấp hèn, khốn khổ. Tôi hình như mang máng có ý nghĩ là giáo quyền đã phản ngược lại lý tưởng của Giêsu Na-da-rét”.
Nhưng biến cố 1945 đã quét sạch “cái hình ảnh Hội Thánh gắn liền với quyền bính… Cái vỏ ‘cố Tây’ được bóc vất đi để lộ nguyên hình là các vị ‘thừa sai’ của Chúa Kitô, mà đã có thời tỏ rạng qua dáng dấp của chân phước Théophane Vénard”. Hình ảnh vị “Giám Mục Việt Nam tiên khởi địa phận Vinh lúc ra Thanh Hóa thụ phong Giám Mục, được gánh đi lủi thủi không tiền hô hậu ủng, không kèn, không trống âm thầm lặng lẽ phục xuống trước bàn thờ, như bị đè bẹp dưới cuốn Kinh Thánh đặt trên mình, đã xóa nhòa hình ảnh các vị Giám Mục áo Vàng áo Tím, oai vệ ngồi trên khán đài danh dự cạnh quan Khâm quan sứ trong các buổi duyệt binh vào dịp lễ Quốc khánh của nước Bảo Hộ Đại Pháp trước 1945”.
Nguyễn Khắc Dương cho rằng năm 1945 “quả là Năm Đại Hồng Phúc đối với riêng tôi” làm thay đổi hẳn tương quan của cậu đối với Giáo Hội. Từ từ, cậu nhận ra “trong một môi trường chịu ảnh hưởng của Chúa Giêsu Na-da-rét, tương quan liên-ngã-vị (relation intersubjective, interpersonnelle) cũng đậm đà hơn. Một gia đình, một họ đạo, một cơ sở Kitô giáo nào cũng mang màu sắc ấy (dù trình độ văn hóa và kể cả trình độ đạo đức cá nhân có thể là thấp)”. Bầu không khí của cộng đoàn Công Giáo luôn “có cái gì thân hữu, đầm ấm”. Dù có thể lắm lúc xảy ra cãi cọ tranh chấp, “nhưng vẫn là có nhau – nghĩa là dù tốt hay xấu đều có nhau, đều có tương quan liên- ngã-vị, hữu ngã và hữu tha trong cái với nhau”. Cậu cho rằng “cái tương quan liên-ngã-vị quan trọng như vậy là vì từ trong nguồn gốc của mỗi hữu thể, tức là trong Mầu Nhiệm Thiên Chúa tương quan lập hữu giữa Ba Ngôi (Cha, Con và Thần Khí) không phải là một tùy thể thêm vào một hữu thể nòng cốt; nhưng chính là “bản tính” của hữu thể. Nơi con người cái tương quan là cha, là con, là thầy, là trò chỉ là một chuyện phụ thuộc, có vất bỏ đi vẫn còn có con người. Còn nơi Thiên Chúa: Chúa Cha chỉ là Cha thôi, nếu không là Cha thì không còn gì nữa, cho nên chính cái tương quan ấy (Cha, Con, Thần Khí…) là bản tính của Hữu thể”.
Từ đó, cậu luôn tìm về với một gia đình, một cộng đoàn Công Giáo để tìm ra cái tương quan liên ngã vị này. Rất may, sau khi đậu tú tài 2 năm 1946, cậu có dịp được dạy Việt Văn tại Trung Học Đậu Quang Lĩnh tại Vinh. “Được trở về sống trong cái khí quyển mà tôi đã hấp thụ sáu năm tại trường Thiên Hựu, tôi như một ngọn cây đang bị héo rũ, bỗng được tưới mát hồi sinh… Dần dần, tôi mới khám phá ra rằng chỉ có môi trường Công Giáo mới hợp với con người tôi, và có lẽ tôi chỉ sống được trong môi trường ấy mà thôi”. Vì sau Cách Mạng Tháng Tám, chỉ “tại các xóm đạo, trong các gia đình Công Giáo thì tôi cảm thấy như sinh khí vẫn dồi dào, tương quan vẫn có cái gì đằm thắm sâu xa mật thiết, đầy sinh khí tuy có vẻ thầm lặng kín đáo nhưng vẫn vui tươi ấm áp. Nhất là những giờ kinh sáng tối trong gia đình hoặc tại nhà thờ. Tuy chưa có đức tin tôi vẫn cảm thấy như mình là cây được cắm vào lòng đất có nhựa sống, được bao bọc và sưởi ấm bởi tình người trong tương quan liên-ngã-vị. Có lẽ tôi đã cảm nghiệm mầu nhiệm các Thánh thông công trong sinh hoạt của Hội Thánh Công Giáo trước rồi sau mới phát giác ra rằng: mối dây của sự thông công ấy là Chúa Giêsu mà ngôi thánh đường có nhà tạm, nơi Chúa ngự, có đèn thắp sáng là trung tâm và vị linh mục, Giám mục là đại diện và thừa tác viên… Mỗi giáo xứ, mỗi Cộng đoàn Công Giáo quả là một gia đình! Bếp lửa, mỗi tổ ấm ấm cúng, có lò lửa sưởi ấm là Chúa Giêsu, mà Thánh Thể là bí tích về sự hiện diện, tuy vô hình nhưng thực sự của Ngài, vị tư tế là đại diện và thừa tác viên, các tín hữu là anh chị em, là con chung của Cha trên trời. Và trong tổ ấm ấy, đời sống cộng đoàn (communauté) chứ không phải tập thể (collectivité) vẫn không làm giảm tương quan liên-ngã-vị cá thể: vì mọi tín hữu đều có tương quan riêng duy nhất, trực tiếp với Chúa Giêsu trong một sự kín nhiệm mà không một người thứ ba nào có quyền xâm lược bằng bạo lực hay âm mưu xảo trá”.
Ngoài ra, “tôi nghĩ rằng vấn đề căng thẳng giữa cá nhân và đoàn thể, chỉ có cộng đoàn Công Giáo là giải quyết tuyệt vời. Sau này tôi mới biết rằng là nhờ phạm trù nhiệm thể và chi thể Đức Kitô mà vấn đề được giải quyết mỹ mãn đến mức độ tối đa… Hầu như tổng hợp rất nhuần nhuyễn tính cách quân chủ và dân chủ”.
Tuy nhiên, nếu chỉ xét ở bình diện con người, thì người và cộng đoàn Công Giáo Việt Nam chỉ mới ở mức độ rất bình thường, đôi khi còn kém thua người khác. Nói chung, họ thiếu khí phách hiên ngang so với mẫu người Nho Giáo. Nhưng “điều đáng lưu ý nhất nơi những cá nhân và Cộng đoàn Công Giáo nằm ở chỗ họ đang làm chứng một cách nào đó về một cái gì rất kỳ lạ, nói đúng hơn, về một con người: Đức Giêsu người Na-da-rét, còn gọi là Đức Kitô… Thực ra từ bản chất, không phải chính họ chủ động trong sự làm chứng ấy bằng nỗ lực nêu gương sáng, nhưng chính là Đức Kitô đã dùng họ mà tỏ mình ra cho dù họ là những người rất tầm thường, và đôi khi còn tệ hơn nữa là khác! Nói theo tiếng chuyên môn thần học, người Công Giáo cá nhân cũng như tập thể, đều là ‘bí quyết của Đức Kitô’, là sự hiện diện và tác động của Đức Kitô trong hiện tại và ở nơi này (hic et nunc) chứ không phải họ chỉ loan truyền một tin vui xảy ra trong quá khứ cách 2000 năm về trước ở Thánh Địa xa xôi. Họ gần như là bí tích Thánh Thể vậy! Cũng như lúa mì thuộc hạng tốt hay xấu vậy, bột mì dùng làm bánh Thánh có loại thơm loại không thơm, loại thô, loại mịn, loại trắng, loại hẩm, nhưng khi đã được vị tư tế đọc lời truyền phép dưới tác động của Chúa Thánh Thần đều trở nên Thánh Thể cả, cũng đều có Chúa Kitô hiện diện thực sự…”.
Giáo Hội, vì thế, theo Nguyễn Khắc Dương “chỉ là chứng tích và là dấu chỉ” qua đó, cậu “tiếp cận được với một người đang hiện diện và tác động ‘hic et nunc’: Đức Giêsu Kitô”. Cái Giáo Hội này cũng có nhiều nét tiêu cực, không hẳn “đạo đức tài trí vượt bực! Thế nhưng, cái Giáo Hội này đã “giúp tôi thấy sự hiện diện và tác động của Đức Kitô gần như là còn sống, sống giữa, sống trong Hội Thánh ấy! Và tôi thấy rằng những sai lầm thiếu sót của Hội Thánh, của các Giáo Hoàng, Giám Mục, Linh Mục, Tu Sĩ, Giáo dân suốt 2000 năm lịch sử Tây Phương và gần 100 năm chủ nghĩa thực dân, những sai lầm thiếu sót mà trước đó đã làm cho tôi nghĩ rằng Hội Thánh đã phản ngược lại lý tưởng nguyên thủy của đạo Tin Mừng, thì nay tôi bỗng nhận thấy rằng: Hội Thánh Công Giáo không phải là một cộng đoàn lý tưởng gồm những kẻ tài cao đức trọng, đã thể hiện được một đạo sống theo một giáo thuyết cao siêu thâm thúy gì cả! Hội thánh chỉ là một số người đủ loại, y như số người hành khất tật nguyền dơ bẩn lê lết bên vệ đường, bỗng được gọi vào dự tiệc cưới mà Chúa Giêsu có nhắc đến trong bài dụ ngôn mô tả Nước Trời. Họ được Ngài gọi, được Ngài chọn để sai đi làm chứng và mang sự hiện diện tác động của Ngài theo họ, tất cả do Ngài chứ không phải do giá trị cá nhân của họ gì cả. Borgia đã làm Giáo Hoàng, Richelieu làm Hồng Y, Cauchon làm Giám mục, thì nếu có một ông Linh mục Tây nào đó, có thể đã nộp một Linh mục Việt Nam tham gia cách mạng cho mật thám Pháp, thì cũng thường tình. Ở thế kỷ thứ 19, một người Tây Âu mà không có óc thực dân thì phải là bậc Đại Trí, Đại Thánh! Người mà Đức Giêsu chọn là bọn thu thuế sài lang, có khi là đĩ điếm, trộm cướp còn đầy thành kiến, ganh tị, nhỏ nhen, ngớ ngẩn, sai lầm đủ thứ… Thế nhưng, tất cả chỉ làm một việc này: làm chứng về Đức Giêsu, làm cho người ta thấy Đức Giêsu hiện diện và tác động qua họ. Các môn đệ của Đức Giêsu như lời Bernadette ở Lộ Đức “đều là cái chổi cùn Chúa muốn dùng, dùng xong thì xếp xó”, hay như chính Tê-rê-sa Hài Đồng nói: “tất cả đều là ngọn bút lông vô giá trị trong tay một nghệ sĩ tài tình!” Và như vậy thì nói hơi quá cho dễ hiểu: chổi càng cùn, bút lông càng xoàng lại càng chứng tỏ có sự hiện diện và tác động của Chúa. Hội thánh Công Giáo không những với tất cả những gì là nhân loại tính tầm thường (lắm lúc còn ghê rợn: như các giàn hỏa thiêu) của nó mà đôi khi xét trên một phương diện nào đó, chính nhờ sự tầm thường ấy mà nó là dấu chỉ, làm chứng cho sự hiện diện và tác động của Chúa Giêsu. Alexandre, César, Hán Cao Tổ, Thành Cát Tư Hãn, Napoléon… các thánh nhân và hiền triết dù vĩ đại đến đâu, đều là những người đã chết; còn Giêsu người Na-da-rét thì đang sống vì đang hiện diện và tác động. Hội thánh Công Giáo cũng chỉ là nhóm người đủ loại như bất cứ nhóm người nào, chỉ khác ở chỗ là cho thấy được Đức Giêsu đang còn sống, hoạt động giữa trần gian mọi ngày, mọi giây, mọi phút, ở mọi nơi và sẽ như vậy cho đến tận thế”.
Nguyễn Khắc Dương xác tín rằng: không thể tách Giáo Hội khỏi Chúa Giêsu, như tách rời một tổ chức với người sáng lập ra nó. Vì “không có Thầy các con chẳng làm nên trò trống gì”

Thứ Sáu, 10 tháng 1, 2014

Giờ kinh tối tại gia đình

GIỜ KINH TỐI TẠI GIA ĐÌNH
Năm gia đình 2014








1. Dấu Thánh Giá 
Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần. Amen.

Chúng con lạy ơn Đức Chúa Thánh Thần thiêng liêng sáng láng vô cùng. Chúng con xin Đức Chúa Thánh Thần xuống, đầy lòng chúng con là kẻ tin cậy Đức Chúa Trời, và đốt lửa kính mến Đức Chúa Trời trong lòng chúng con; chúng con xin Đức Chúa Trời cho Đức Chúa Thánh Thần xuống.
- Sửa lại mọi sự trong ngoài chúng con.
Chúng con cầu cùng Đức Chúa Trời xưa đã cho Đức Chúa Thánh Thần xuống soi lòng dậy dỗ các Thánh Tông Đồ, thì rầy chúng con cũng xin Đức Chúa Trời cho Đức Chúa Thánh Thần lại xuống, yên ủi dạy dỗ chúng con làm những việc lành, vì công nghiệp vô cùng Đức Chúa Giêsu Kitô là Chúa chúng con. Amen.

Lạy Chúa con, Chúa là Đấng trọn tốt trọn lành vô cùng. Chúa đã dựng nên con, và cho Con Chúa ra đời chịu nạn chịu chết vì con, mà con đã cả lòng phản nghịch lỗi nghĩa cùng Chúa, thì con lo buồn đau đớn, cùng chê ghét mọi tội con trên hết mọi sự; con dốc lòng chừa cải, và nhờ ơn Chúa thì con sẽ lánh xa dịp tội cùng làm việc đền tội cho xứng. Amen.

Lạy Chúa con, con tin thật có một Đức Chúa Trời là Đấng thưởng phạt vô cùng. Con lại tin thật Đức Chúa Trời có Ba Ngôi, mà Ngôi Thứ Hai đã xuống thế làm người chịu nạn chịu chết mà chuộc tội thiên hạ. Bấy nhiêu điều ấy cùng các điều Hội Thánh dậy thì con tin vững vàng vì Chúa là Đấng thông minh và chân thật vô cùng đã phán truyền cho Hội Thánh. Amen. 

Lạy Chúa con, con trông cậy vững vàng vì công nghiệp Đức Chúa Giêsu thì Chúa sẽ ban ơn cho con giữ đạo nên ở đời này, cho ngày sau được lên thiên đàng xem thấy mặt Đức Chúa Trời hưởng phúc đời đời, vì Chúa là đấng phép tắc và lòng lành vô cùng đã phán hứa sự ấy chẳng có lẽ nào sai được. Amen.

Lạy Chúa con, con kính mến Chúa hết lòng hết sức trên hết mọi sự, vì Chúa là Đấng trọn tốt trọn lành vô cùng, lại vì Chúa thì con thương yêu người ta như mình con vậy. Amen.

7. Lần hạt một chục ttheo ngày
8. Đọc Lời Chúa và suy niệm theo ngày

Con cám ơn Đức Chúa Trời là Chúa lòng lành vô cùng chẳng bỏ con, chẳng để con không đời đời, mà lại sinh ra con, cho con được làm người, cùng hằng gìn giữ con, hằng che chở con, lại cho Ngôi Hai xuống thế làm người, chuộc tội chịu chết trên cây Thánh Giá vì con, lại cho con được đạo thánh Đức Chúa Trời, cùng chịu nhiều ơn nhiều phép Hội Thánh nữa, và đã cho phần xác con đêm nay (tối thì đọc: ngày hôm nay) được mọi sự lành; lại cứu lấy con kẻo phải chết tươi ăn năn tội chẳng kịp. Vậy các Thánh ở trên nước thiên đàng cám ơn Đức Chúa Trời thế nào, thì con cũng hợp cùng các Thánh mà dâng cho Chúa con cùng cám ơn như vậy. Amen.

Chúng con trông cậy rất thánh Đức Mẹ Chúa Trời, xin chớ chê chớ bỏ lời chúng con nguyện trong cơn gian nan thiếu thốn, Đức Nữ đồng trinh, hiển vinh sáng láng.
- Hằng chữa chúng con cho khỏi mọi sự dữ. Amen.

Lạy rất thánh trái tim Đức Chúa Giêsu,
- Thương xót chúng con.
Lạy trái tim cực thanh cực tịnh rất thánh Đức Bà Maria,
- Cầu cho chúng con.
Lạy ông thánh Giuse là bạn thanh sạch Đức Bà Maria trọn đời đồng trinh,
- Cầu cho chúng con.

12. Làm dấu kết thúc giờ kinh
 

Sample text

Sample Text

Sample Text

 
Blogger Templates